Tỷ lệ stress và các yếu tố liên quan ở công nhân giày da tại một công ty thuộc tỉnh Bình Dương năm 2017

Đặt vấn đề: Ngày nay, khi đặc điểm của nhiều quá trình lao động đang thay đổi nhanh chóng khiến cho

người lao động không kịp thích nghi và đã bị stress dưới nhiều dạng khác nhau. Stress xảy ra thường xuyên có

tác hại khá nghiêm trọng tới sức khỏe người lao động. Thậm chí trong trường hợp nặng, stress kéo dài có thể dẫn

đến những vấn đề về tâm lý và rối loạn tâm thần. Do đó, việc giảm hoặc loại bỏ stress nghề nghiệp tại nơi làm

việc sẽ có lợi cho sức khỏe tinh thần của người công nhân.

Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ stress và các yếu tố liên quan ở công nhân giày da tại công ty thuộc

tỉnh Bình Dương năm 2017.

Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu: Cắt ngang mô tả, cỡ mẫu tính theo công thức ước

lượng một tỷ lệ. Sử dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên hệ thống để chọn mẫu và bộ câu hỏi soạn sẵn để

thu thập số liệu.

Kết quả: Khảo sát được thực hiện ở 394 công nhân giày da của công ty. Có 26,9% công nhân bị stress nghề

nghiệp, trong đó tỷ lệ stress ở công nhân sản xuất trực tiếp chiếm 30,6%, gián tiếp là 13,1%. Có mối liên quan có

ý nghĩa thống kê giữa stress nghề nghiệp với nhu cầu công việc, vấn đề kiểm soát công việc, sự hỗ trợ trong công

việc và môi trường làm việc (p <0,05).

Kết luận: Vẫn còn nhiều yếu tố trong công việc ảnh hưởng đến tình trạng căng thẳng khi làm việc ở người

công nhân, cụ thể như khối lượng công việc, thời gian làm việc kéo dài, áp lực trong công việc, sự hỗ trợ của

người quản lý và môi trường làm việc có nhiều bụi, nóng, ồn. Vì vậy, cần giảm bớt áp lực công việc bằng cách

phân bố lại khối lượng công việc phù hợp, có thời gian nghỉ giữa các ca làm việc khoảng 5 đến 10 phút, cải thiện

môi trường lao động.

Tỷ lệ stress và các yếu tố liên quan ở công nhân giày da tại một công ty thuộc tỉnh Bình Dương năm 2017 trang 1

Trang 1

Tỷ lệ stress và các yếu tố liên quan ở công nhân giày da tại một công ty thuộc tỉnh Bình Dương năm 2017 trang 2

Trang 2

Tỷ lệ stress và các yếu tố liên quan ở công nhân giày da tại một công ty thuộc tỉnh Bình Dương năm 2017 trang 3

Trang 3

Tỷ lệ stress và các yếu tố liên quan ở công nhân giày da tại một công ty thuộc tỉnh Bình Dương năm 2017 trang 4

Trang 4

Tỷ lệ stress và các yếu tố liên quan ở công nhân giày da tại một công ty thuộc tỉnh Bình Dương năm 2017 trang 5

Trang 5

Tỷ lệ stress và các yếu tố liên quan ở công nhân giày da tại một công ty thuộc tỉnh Bình Dương năm 2017 trang 6

Trang 6

Tỷ lệ stress và các yếu tố liên quan ở công nhân giày da tại một công ty thuộc tỉnh Bình Dương năm 2017 trang 7

Trang 7

Tỷ lệ stress và các yếu tố liên quan ở công nhân giày da tại một công ty thuộc tỉnh Bình Dương năm 2017 trang 8

Trang 8

pdf 8 trang viethung 30/12/2021 140
Bạn đang xem tài liệu "Tỷ lệ stress và các yếu tố liên quan ở công nhân giày da tại một công ty thuộc tỉnh Bình Dương năm 2017", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tỷ lệ stress và các yếu tố liên quan ở công nhân giày da tại một công ty thuộc tỉnh Bình Dương năm 2017

Tỷ lệ stress và các yếu tố liên quan ở công nhân giày da tại một công ty thuộc tỉnh Bình Dương năm 2017
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 475
TỶ LỆ STRESS VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở CÔNG NHÂN GIÀY DA TẠI 
MỘT CÔNG TY THUỘC TỈNH BÌNH DƯƠNG NĂM 2017 
Nguyễn Thị Thùy Dương*, Vương Thuận An*, Lê Thị Xuân Quỳnh*, Não Thị Mỹ Trang*, 
Vũ Khôi Nguyên* 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Ngày nay, khi đặc điểm của nhiều quá trình lao động đang thay đổi nhanh chóng khiến cho 
người lao động không kịp thích nghi và đã bị stress dưới nhiều dạng khác nhau. Stress xảy ra thường xuyên có 
tác hại khá nghiêm trọng tới sức khỏe người lao động. Thậm chí trong trường hợp nặng, stress kéo dài có thể dẫn 
đến những vấn đề về tâm lý và rối loạn tâm thần. Do đó, việc giảm hoặc loại bỏ stress nghề nghiệp tại nơi làm 
việc sẽ có lợi cho sức khỏe tinh thần của người công nhân. 
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ stress và các yếu tố liên quan ở công nhân giày da tại công ty thuộc 
tỉnh Bình Dương năm 2017. 
Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu: Cắt ngang mô tả, cỡ mẫu tính theo công thức ước 
lượng một tỷ lệ. Sử dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên hệ thống để chọn mẫu và bộ câu hỏi soạn sẵn để 
thu thập số liệu. 
Kết quả: Khảo sát được thực hiện ở 394 công nhân giày da của công ty. Có 26,9% công nhân bị stress nghề 
nghiệp, trong đó tỷ lệ stress ở công nhân sản xuất trực tiếp chiếm 30,6%, gián tiếp là 13,1%. Có mối liên quan có 
ý nghĩa thống kê giữa stress nghề nghiệp với nhu cầu công việc, vấn đề kiểm soát công việc, sự hỗ trợ trong công 
việc và môi trường làm việc (p <0,05). 
Kết luận: Vẫn còn nhiều yếu tố trong công việc ảnh hưởng đến tình trạng căng thẳng khi làm việc ở người 
công nhân, cụ thể như khối lượng công việc, thời gian làm việc kéo dài, áp lực trong công việc, sự hỗ trợ của 
người quản lý và môi trường làm việc có nhiều bụi, nóng, ồn. Vì vậy, cần giảm bớt áp lực công việc bằng cách 
phân bố lại khối lượng công việc phù hợp, có thời gian nghỉ giữa các ca làm việc khoảng 5 đến 10 phút, cải thiện 
môi trường lao động. 
Từ khóa: stress, căng thẳng trong công việc, công nhân giày da 
ABSTRACT 
PREVALENCE OF STRESS AMONG LEATHER SHOE WORKERS AND RELATED FACTORS AT A 
COMPANY IN BINH DUONG PROVINCE IN 2017 
Nguyen Thi Thuy Duong, Vuong Thuan An, Le Thi Xuan Quynh, Nao Thi My Trang, 
Vu Khoi Nguyen 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 – No. 5 - 2019: 475 - 482 
Background: Nowadays, workers suffer from various kinds of stress as a consequence of rapidly changing in 
working condition characteristics. Repeatedly suffer from stress greatly adversely influence health, it can result in 
psychological problems and mental disorders if prolonged. Therefore, reducing or eliminating occupational stress 
in the workplace will be beneficial to the mental health of workers. 
Objectives: To determine the percentage of stress and its related factors in shoe and leather workers at a 
company in Binh Duong province in 2017. 
*Viện Y tế công cộng TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: ThS. Nguyễn Thị Thùy Dương ĐT: 0979913608 Email: nguyenthithuyduong@iph.org.vn 
nguyenduong8989@gmail.com 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 476
Methods: A cross-sectional study with simple random sampling was applied, using a structured 
questionnaire to interview. Evaluating stress in workers using the Workplace Stress Survey by the American 
Institute of Stress (AIS). Evaluating the factors that contribute to stress in workers using questionnaire "Stress at 
Work Survey" of the Unite the Union. 
Results: The survey was conducted in 394 shoe and leather workers. In those, 26.9% suffered from 
occupational stress, this percentage in direct-workers was 30.6% and 13.1% in the indirect laborer. There was a 
statistically significant association between occupational stress and job demand, job control, job support, and work 
environment (p <0.05). 
Conclusion: Stress-derives factors such as large workload, too long working time, high working pressure, 
managerial support, low-quality working conditions remain problems. Hence it is truly necessary to reduce the 
work pressure by suitably redistributing workload, arranging a 5-10 minutes break between working shifts, as 
well as improving the working environment. 
Keywords: stress, stress in work, shoe and leather workers 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Ngày nay khi đặc điểm của nhiều quá trình 
lao động đang thay đổi nhanh chóng khiến cho 
người lao động không kịp thích nghi và đã bị 
stress dưới nhiều dạng khác nhau. Tuy nhiên, 
người lao động vẫn còn chủ quan khi bị stress 
tấn công, khiến họ cảm thấy mệt mỏi, chán nản, 
cáu kỉnh, khó tập trung và gây ra các bệnh lý 
nguy hiểm như bệnh tim, cao huyết áp, rối loạn 
cơ xương, gây ảnh hưởng tới sức khỏe của người 
lao động. Đồng thời, họ có thể sử dụng hay lạm 
dụng các chất kích thích như uống rượu bia, hút 
thuốc lá và sử dụng các chất gây nghiện. Thậm 
chí trong trường hợp nặng, stress kéo dài có thể 
dẫn đến những vấn đề về tâm lý và rối loạn tâm 
thần(11). Do đó, việc giảm hoặc loại bỏ stress nghề 
nghiệp tại nơi làm việc sẽ có lợi cho sức khỏe 
tinh thần của người công nhân(2,3). 
Hiện nay, tại Việt Nam ngành sản xuất giày 
da là một trong ba ngành mang lại kim ngạch 
xuất khẩu lớn nhất với khoảng trên 500.000 
người lao động. Hơn nữa công nhân ngành này 
phải làm việc trong môi trường khá căng thẳng 
và khắc nghiệt chịu tác động của bụi da, hóa 
chất độc hại và áp lực công việc dễ khiến+ công 
nhân phải đối diện với nguy cơ bị các bệnh nghề 
nghiệp, chưa đảm bảo sức khỏe và quyền lợi cho 
công nhân. Nghiên cứu tại Brazil cho thấy hầu 
hết công nhân ngành giày da có mức độ stress từ 
vừa phải tới cao, có 54,1% stress mức độ vừa 
phải và 28,6% stress mức độ cao(4). Tuy nhiên, đa 
số các nghiên cứu về stress chỉ tập trung trên đối 
tượng lao động trí óc như nhân viên y tế, giáo 
viên, trong khi trên đối tượng công nhân đặc biệt 
là  ... Không được tôn trọng 
Hiếm khi/ Không bao giờ 
Thỉnh thoảng 
Thường xuyên 
43 (15,6) 
30 (36,6) 
33 (91,7) 
233 (84,4) 
52 (63,4) 
03 (8,3) 
1 
2,35 (1,47-3,74) 
5,88 (3,74-9,26) 
<0,001 
<0,001 
Phân biệt đối xử 
Hiếm khi/ Không bao giờ 
Thỉnh thoảng 
Thường xuyên 
73 (21,9) 
23 (47,9) 
10 (83,3) 
261 (78,1) 
25 (52,1) 
02 (16,7) 
1 
2,19 (1,37-3,50) 
3,81 (7,97-7,38) 
<0,001 
<0,001 
Mối quan hệ với cấp trên 
Tốt/ Rất tốt 
Bình thường 
Không tốt 
32 (12,2) 
11 (30,6) 
63 (65,6) 
230 (87,8) 
25 (69,4) 
33 (34,4) 
1 
2,5 (1,26-4,96) 
5,37 (3,51-8,22) 
<0,001 
<0,001 
Mối liên quan giữa stress ở công nhân với các 
yếu tố trong công việc 
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhu 
cầu công việc với stress ở công nhân, vấn đề 
kiểm soát công việc, sự hỗ trợ trong công việc, 
mối quan hệ nơi làm việc, những thay đổi nơi 
làm việc, môi trường làm việc (p <0,05), theo đó 
công nhân càng khó thích nghi với nhu cầu công 
việc, vấn đề kiểm soát công việc, sự hỗ trợ trong 
công việc, mối quan hệ nơi làm việc và môi 
trường làm việc thì có tỷ lệ stress càng tăng. Khi 
điểm của yếu tố nhu cầu công việc tăng thêm 
một đơn vị thì tỷ lệ stress ở công nhân tăng 1,37 
lần với KTC =1,37 – 1,46 (Bảng 8). 
Bảng 8: Mối liên quan giữa stress ở công nhân với các yếu tố trong công việc (n=394) 
Đặc điểm 
Stress ở công nhân PR 
(KTC 95%) 
p 
Có (TB ± ĐLC) Không (TB ± ĐLC) 
Nhu cầu công việc 16 ± 2,33 12,2 ± 2,1 1,37 (1,29 – 1,46) <0,001 
Kiểm soát công việc 18,6 ± 2,6 13,5 ± 2,8 1,33 (1,29 – 1,38) <0,001 
Sự hỗ trợ trong công việc 16,0 ±2,5 11,4 ± 2,6 1,35 (1,30 – 1,41) <0,001 
Mối quan hệ tại nơi làm việc 15,7 ± 2,4 14,6 ± 1,9 1,21 (1,13 – 1,30) <0,001 
Môi trường làm việc 29,4 ± 4,8 24,5 ± 5,1 1,15 (1,11 – 1,18) <0,001 
BÀN LUẬN 
Nhìn chung kết quả khảo sát phù hợp với 
đặc điểm của người lao động, có độ tuổi từ 20 
đến 59 tuổi, trình độ học vấn mức trung học cơ 
sở chiếm nhiều nhất. Trong số 394 người lao 
động được phỏng vấn thì có tới 320 người là 
nữ giới chiếm tỷ lệ 81,2% và đa số công nhân 
đã lập gia đình chiếm 77,4%. Kết quả tương tự 
với nghiên cứu trên công nhân ngành may 
mặc tại khu vực phía Nam (KVPN) có 89% là 
lao động nữ(13). Sự phân bố nữ giới chiếm đa số 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 480
cũng là phù hợp với cơ cấu giới tính ở ngành 
nghề giày da may mặc. Theo kết quả Tổng 
điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam của Tổng 
cục thống kê thì tuổi kết hôn trung bình lần 
đầu của nam giới năm 2009 là 26,2% và nữ giới 
là 22,8%(11), và trong nghiên cứu này thì đa số 
công nhân là từ 25-34 tuổi cho nên tỷ lệ kết 
hôn như trên là hoàn toàn hợp lý. 
Về độ tuổi, kết quả nghiên cứu cho thấy đa 
số công nhân có độ tuổi nằm trong khoảng từ 
25-34 tuổi chiếm 53,3%, cao gấp đôi so với báo 
cáo điều tra Lao động và việc làm Việt Nam 
năm 2016 (24,5%)(10). Kết quả cho thấy đối 
tượng lao động chủ yếu của công ty là lao 
động trẻ. Độ tuổi từ 40 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ 
thấp (16,7%). 
Trong số các đối tượng được khảo sát thì 
hầu hết công nhân đều thực hiện công việc 
trực tiếp sản xuất và hơn một nửa phải làm 
việc tăng ca ngoài giờ. Điều này cũng là phù 
hợp với tình hình hoạt động của các công ty 
lao động sản xuất. Đa số công nhân làm việc 
tại công ty trong thời gian dưới 10 năm (chiếm 
khoảng 80%), kết quả này tương đương với 
nghiên cứu trên công nhân giày da tại Hải 
Phòng của Nguyễn Thị Thùy Linh, trong đó có 
gần một nửa làm việc tại công ty dưới 5 năm 
(chiếm 46,2%)(6). Số công nhân có thâm niên từ 
10 năm trở lên chiếm tỷ lệ rất thấp chỉ có 
20,1%. Thời gian làm việc tại công ty càng dài 
thì số công nhân càng giảm dần. Điều này có 
thể do công việc khá đơn điệu, lao động triền 
miên, áp lực công việc quá nhiều, hoặc do 
lương bổng chưa thỏa đáng chưa đủ sức thực 
sự thu hút công nhân gắn bó lâu dài với công 
việc, khiến cho công nhân thường xuyên 
thuyên chuyển công việc qua những nơi có thu 
nhập tốt hơn. 
Về trình độ học vấn, hầu hết công nhân 
mới tốt nghiệp THPT trở xuống (chiếm 96,6%), 
cao hơn so với báo cáo điều tra Lao động và 
việc làm Việt Nam của Tổng cục thống kê 
(chiếm 80,1%)(10). Trong đó, tốt nghiệp THCS 
chiếm tỷ lệ cao nhất (39,9%), trình độ trung 
cấp trở lên chiếm tỷ lệ rất thấp (3,3%) chủ yếu 
là nhân viên văn phòng, vẫn còn 17 đối tượng 
chưa tốt nghiệp tiểu học chỉ ở mức biết đọc 
biết viết. 
Những kết quả này hoàn toàn phù hợp với 
thực tế của ngành giày da là đòi hỏi công nhân 
có độ tuổi trẻ, công việc phù hợp với lao động 
nữ, công việc thủ công dòi hỏi sự khéo léo và 
nhanh nhẹn là chính và không nhất thiết đòi 
hỏi người lao động có trình độ học vấn cao. 
Tỷ lệ stress nghề nghiệp ở công nhân 
Qua nghiên cứu cho thấy tỷ lệ stress ở 
công nhân giày da tại công ty là 26,9%. Tỷ lệ 
stress ở nhóm công nhân sản xuất trực tiếp, 
cao gấp 2,34 lần so với nhóm gián tiếp. Kết quả 
của nghiên cứu cao gần tương tự với kết quả 
được thực hiện trên công nhân giày da sản 
xuất trực tiếp tại Hải Phòng năm 2012 của 
Nguyễn Thị Thùy Linh(7), tỷ lệ stress là 20,7%. 
Có thể do nghiên cứu tiến hành trên công ty 
nước ngoài có kỷ luật công ty khắt khe hơn, 
thường xuyên bị áp lực thúc đẩy liên tục trong 
công việc cho nên tỷ lệ stress có sự chênh lệch 
cao hơn. Nghiên cứu tại khu vực phía Nam 
trên công nhân dệt may của Trịnh Hồng Lân 
cũng đã cho thấy công nhân các công ty nước 
ngoài có tỷ lệ stress cao hơn so với công ty 
trong nước(13). Nghiên cứu về stress trên 17.727 
công nhân giày da Brazil cho thấy kết quả tỷ lệ 
stress cao hơn nhiều. Có tới 31,7% công nhân 
có stress mức độ cao và 54,1% có stress mức độ 
vừa(4). Trong nghiên cứu này sử dụng thang đo 
đánh giá mức độ PSS-10 phân loại mức độ 
stress vừa phải là từ 13-20 điểm và stress mức 
độ cao là từ 20 điểm trở lên trong thang đo 40 
điểm. Có thể việc sử dụng hai thang đo khác 
nhau cũng góp phần tạo nên sự khác biệt về tỷ 
lệ stress ở công nhân giày da. Kết quả của các 
nghiên cứu tuy có sự khác biệt do khác nhau 
về quốc gia, thời gian nghiên cứu, đối tượng 
và phương pháp nghiên cứu nhưng cũng đã 
cho thấy một cái nhìn bao quát về tình trạng 
stress tương đối cao ở nhóm đối tượng công 
nhân hiện nay. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 481
Mối liên quan giữa stress ở công nhân với 
nhu cầu công việc 
Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa 
nhu cầu công việc với stress ở công nhân. 
Công nhân càng khó thích nghi với những nhu 
cầu công việc thì tỷ lệ stress càng tăng. Với 
những vấn đề về nhu cầu công việc thì nghiên 
cứu tìm thấy sự khác biệt giữa stress với khối 
lượng công việc, thời gian làm việc kéo dài, 
thời gian nghỉ ngơi, công việc đơn điệu và 
phải thực hiện nhiều công việc. Trong đó khối 
lượng công việc nhiều và thời gian làm việc 
kéo dài có sự khác biệt lớn nhất. Do đó đây là 
vấn đề quan trọng gây ra stress tại nơi làm 
việc cần phải được đặc biệt quan tâm. Các 
nghiên cứu trên nhân viên y tế tại Nhơn Trạch, 
Đồng Nai của Đỗ Nguyễn Nhựt Trần(5) và trên 
giáo viên mầm non tại Lagi Bình Thuận của 
Vũ Thị Thúy(105) cũng cho thấy khả năng stress 
có liên quan đến khối lượng công việc và thời 
gian nghỉ ngơi. 
Mối liên quan giữa stress ở công nhân với 
vấn đề kiểm soát công việc 
Công nhân càng khó thích nghi với những 
kiểm soát trong công việc thì tỷ lệ stress càng 
tăng. Kết quả cũng tương tự với nghiên cứu 
stress trên giáo viên THCS tại Ninh Sơn, Ninh 
Thuận của Trần Thị Ái Huyên(12). Với vấn đề 
kiểm soát công việc thì nghiên cứu cho thấy có 
sự khác biệt giữa stress với áp lực công việc, 
sự giám sát trong công việc và kỷ luật của 
công ty. Trong đó áp lực công việc có sự khác 
biệt lớn nhất, những người thường xuyên bị áp 
lực trong việc có tỷ lệ stress bằng 17,6 lần so 
với những người không bị áp lực trong công 
việc. Đây cũng là vấn đề quan trọng ảnh 
hưởng đến stress của công nhân tại công ty, 
cần phải được quan tâm và khắc phục. 
Mối liên quan giữa stress với mối quan hệ tại 
nơi làm việc 
Khi người công nhân không được tôn 
trọng, bị phân biệt đối xử hoặc có mối quan hệ 
không tốt với cấp trên thì có tỷ lệ stress tăng 
lên. Kết quả cũng tương tự nghiên cứu stress 
trên nhân viên điều dưỡng ở ba tuyến bệnh 
viện Cần Thơ, Hậu Giang cho thấy mâu thuẫn 
với cấp trên là một trong những yếu tố gây ra 
stress tại nơi làm việc thường xuyên không 
được tôn trọng tại nơi làm việc có tỷ lệ stress 
bằng 5,88 lần so với những người được tôn 
trọng. Những vấn đề về mối quan hệ cá nhân 
không thuận lợi, không được tôn trọng tại nơi 
làm việc sẽ khiến người công nhân có cảm giác 
chán nản, tự cô lập bản thân và ít tương tác với 
môi trường sống xung quanh. Kết quả cũng 
tương tự nghiên cứu stress trên nhân viên điều 
dưỡng ở ba tuyến bệnh viện Cần Thơ, Hậu 
Giang cho thấy mâu thuẫn với cấp trên là một 
trong những yếu tố gây ra stress tại nơi làm 
việc(6). 
Mối liên quan giữa stress với sự hỗ trợ trong 
công việc 
Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan có ý 
nghĩa thống kê giữa sự hỗ trợ trong công việc 
với stress ở công nhân, công nhân càng ít nhận 
được sự hỗ trợ trong công việc thì tỷ lệ stress 
càng tăng. Kết quả cũng tương tự với nghiên 
cứu của tác giả Sheldon Cohen về “Tình trạng 
kinh tế xã hội liên quan đến stress” cho thấy có 
mối liên quan giữa stress với sự quan tâm hỗ 
trợ từ cấp trên và những người có thu nhập 
càng thấp thì có khả năng stress cao hơn(1). 
Những cảm nhận về thu nhập thực sự sẽ trở 
thành những gánh nặng to lớn cho người công 
nhân, có tác động rất lớn trong việc tạo ra các 
áp lực. Họ phải lo lắng gia đình mình sống ra 
sao, tính toán thu nhập đó nên chi tiêu như thế 
nào cho phù hợp, phải cố gắng làm thêm giờ 
để có thêm thu nhập. Vì vậy mà khả năng bị 
stress là khá cao. 
KẾT LUẬN 
Vẫn còn nhiều yếu tố trong công việc ảnh 
hưởng đến tình trạng căng thẳng khi làm việc ở 
người công nhân, cụ thể như khối lượng công 
việc, thời gian làm việc kéo dài, áp lực trong 
công việc, sự hỗ trợ của người quản lý và môi 
trường làm việc có nhiều bụi, nóng, ồn. Vì vậy, 
cần giảm bớt áp lực công việc bằng cách phân 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 482
bố lại khối lượng công việc phù hợp, có thời 
gian nghỉ giữa các ca làm việc khoảng 5 đến 10 
phút, cải thiện môi trường lao động. 
KIẾN NGHỊ 
Đối với Ban lãnh đạo công ty 
Để sự phù hợp giữa khả năng của đối tượng 
với công việc được tốt hơn, công ty cần giảm bớt 
áp lực công việc bằng cách phân bố lại khối 
lượng công việc phù hợp hoặc người quản lý cần 
linh động hỗ trợ, điều động thêm công nhân phụ 
giúp lẫn nhau nhằm thực hiện tốt công việc và 
cần phân phối công việc một cách công bằng, 
nhất là đối với nhóm công việc chuẩn bị và quét 
keo/ thành hình. Đồng thời, hiện nay thời gian 
làm việc của công ty kéo dài liên tục cho nên cần 
có thời gian nghỉ giữa các ca làm việc có thể 
khoảng 5 đến 10 phút để công nhân có thể thư 
giãn nghỉ ngơi, giải quyết các vấn đề cá nhân. 
Công đoàn công ty cần có sự quan tâm đến 
đời sống tinh thần cho công nhân, tương trợ 
giúp đỡ lẫn nhau trong công việc hằng ngày. 
Cần tạo điều kiện cho người làm việc dễ dàng 
xin nghỉ phép, nghỉ ốm, có thể xin luân chuyển 
giữa các ca làm việc và kỷ luật của công ty bớt 
khắt khe hơn như cho phép đem đồ ăn thức 
uống vào khu vực nghỉ ngơi. 
Người quản lý, cấp trên nên khích lệ bằng lời 
nói hoặc có khen thưởng cuối năm khi người 
công nhân hoàn thành tốt công việc, nhằm tạo 
tinh thần hăng hái trong công việc, đồng thời 
cũng nên tạo mối quan hệ tốt với cán bộ công 
nhân viên của mình. 
Đối với cá nhân mỗi người công nhân 
Khi cần thiết hãy yêu cầu giúp đỡ từ người 
quản lý hoặc đồng nghiệp để có thể thích nghi 
tốt hơn với môi trường làm việc. Rèn luyện lối 
suy nghĩ tích cực và khả năng chịu áp lực trong 
các tình huống công việc. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Cohen S, Doyle WJ, Andrew B (2006) “Socioeconomic Status Is 
Associated With Stress Hormones”. Psychosomatic Medicine, 
68(3):414-420 
2. Chen WQ, Wong TW, Yu TS (2008). "Association of 
occupational stress and social support with health-related 
behaviors among chinese offshore oil workers". J Occup Health, 
50(3):262-9. 
3. Chen WQ, Wong TW, Yu TS (2009). "Influence of occupational 
stress on mental health among Chinese off-shore oil workers". 
Scand J Public Health, 37(7):766-73. 
4. de Almelda L (2017). "Musculoskeletal disorders and stress 
among footwear industry workers". Work, 56(1):67-73. 
5. Đỗ Nguyễn Nhựt Trần, Nguyễn Hồng Hoa, Trần Thiện Thuần 
(2008). "Stress và các yếu tố liên quan ở nhân viên y tế huyện 
Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai năm 2008". Y học TP Hồ Chí Minh, 
12(4):211 - 215. 
6. Lê Thành Tài, Trần Ngọc Xuân, Trần Trúc Linh (2008). "Tình 
hình stress nghề nghiệp của nhân viên điều dưỡng". Y học TP 
Hồ Chí Minh, 12(4):216 - 220. 
7. Nguyễn Thị Thùy Linh và cộng sự (2014). "Căng thẳng nghề 
nghiệp trên công nhân nhà máy da giày Lê Lai 2 Hải Phòng 
năm 2012". Y học Dự phòng, URL: 
phong/2014/09/. 
8. The American Institute of Stress. "Workplace Stress Survey". 
URL: https://www.stress.org/test/workplace-stress-survey. 
9. Trịnh Hồng Lân và cộng sự (2010). "Các yếu tố nguy cơ, tác hại 
nghề nghiệp ở công nhân ngành may công nghiệp tại một số 
tỉnh phía Nam". Y học TP Hồ Chí Minh, 14(1):217-221. 
10. Vũ Thị Thúy (2012). Mức độ stress nghề nghiệp và các yếu tố 
liên quan của giáo viên mầm non tại thị xã Lagi, tỉnh Bình 
Thuận. Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Y tế Công cộng, Đại học Y 
dược TP. Hồ Chí Minh, pp.38-57. 
11. World Health Organization (2004). Work Organization and 
Stress. WHO, 8:18,19. 
Ngày nhận bài báo: 15/08/2019 
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 31/08/2019 
Ngày bài báo được đăng: 15/10/2019 

File đính kèm:

  • pdfty_le_stress_va_cac_yeu_to_lien_quan_o_cong_nhan_giay_da_tai.pdf