Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở sinh viên răng hàm mặt trường đại học y Hà Nội

Stress là vấn đề ngày càng phổ biến, đặc biệt ở sinh viên. Stress có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến

sức khỏe tâm thần, khả năng học tập, chất lượng cuộc sống của các bạn sinh viên. Sinh viên răng hàm mặt

là nhóm đối tượng có nguy cơ cao bị stress do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục tiêu mô tả

thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở sinh viên răng hàm mặt đang học tập tại Trường Đại học Y

Hà Nội năm 2020-2021. Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp mô tả cắt ngang trên 383 sinh viên

răng hàm mặt. Trong tổng số 383 sinh viên, có 256 sinh viên có stress (chiếm tỷ lệ 66,84%), tỷ lệ stress ở

nam là 63,45%; ở nữ là 68,91%. Theo mức độ stress, tỷ lệ sinh viên bị stress ở mức độ trung bình chiếm tỷ

lệ cao nhất 34,46%, mức độ nặng và rất nặng lần lượt là 8,88% và 6,27%. Tỷ lệ stress theo năm học, cao

nhất ở sinh viên năm thứ 6 là 73,97%. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress ở sinh viên răng hàm

mặt bao gồm: thiếu tự tin vào bản thân, sự kỳ vọng của bố mẹ khiến cảm thấy áp lực. Như vậy, tỷ lệ stress

ở sinh viên răng hàm mặt rất cao và liên quan đến sự tự tin của bản thân, áp lực từ kỳ vọng của bố mẹ.

Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở sinh viên răng hàm mặt trường đại học y Hà Nội trang 1

Trang 1

Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở sinh viên răng hàm mặt trường đại học y Hà Nội trang 2

Trang 2

Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở sinh viên răng hàm mặt trường đại học y Hà Nội trang 3

Trang 3

Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở sinh viên răng hàm mặt trường đại học y Hà Nội trang 4

Trang 4

Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở sinh viên răng hàm mặt trường đại học y Hà Nội trang 5

Trang 5

Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở sinh viên răng hàm mặt trường đại học y Hà Nội trang 6

Trang 6

Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở sinh viên răng hàm mặt trường đại học y Hà Nội trang 7

Trang 7

Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở sinh viên răng hàm mặt trường đại học y Hà Nội trang 8

Trang 8

Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở sinh viên răng hàm mặt trường đại học y Hà Nội trang 9

Trang 9

Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở sinh viên răng hàm mặt trường đại học y Hà Nội trang 10

Trang 10

pdf 10 trang minhkhanh 24/12/2021 5360
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở sinh viên răng hàm mặt trường đại học y Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở sinh viên răng hàm mặt trường đại học y Hà Nội

Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở sinh viên răng hàm mặt trường đại học y Hà Nội
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
68 TCNCYH 142 (6) - 2021
THỰC TRẠNG STRESS VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở SINH 
VIÊN RĂNG HÀM MẶT TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Nguyễn Việt Anh1, *, Võ Trương Như Ngọc1, Chu Đình Tới2
 1Trường Đại học Y Hà Nội
2Đại học Quốc gia Hà Nội
Từ khóa: stress, sinh viên răng hàm mặt, thiếu tự tin, áp lực từ kỳ vọng của bố mẹ.
Stress là vấn đề ngày càng phổ biến, đặc biệt ở sinh viên. Stress có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến 
sức khỏe tâm thần, khả năng học tập, chất lượng cuộc sống của các bạn sinh viên. Sinh viên răng hàm mặt 
là nhóm đối tượng có nguy cơ cao bị stress do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục tiêu mô tả 
thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở sinh viên răng hàm mặt đang học tập tại Trường Đại học Y 
Hà Nội năm 2020-2021. Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp mô tả cắt ngang trên 383 sinh viên 
răng hàm mặt. Trong tổng số 383 sinh viên, có 256 sinh viên có stress (chiếm tỷ lệ 66,84%), tỷ lệ stress ở 
nam là 63,45%; ở nữ là 68,91%. Theo mức độ stress, tỷ lệ sinh viên bị stress ở mức độ trung bình chiếm tỷ 
lệ cao nhất 34,46%, mức độ nặng và rất nặng lần lượt là 8,88% và 6,27%. Tỷ lệ stress theo năm học, cao 
nhất ở sinh viên năm thứ 6 là 73,97%. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress ở sinh viên răng hàm 
mặt bao gồm: thiếu tự tin vào bản thân, sự kỳ vọng của bố mẹ khiến cảm thấy áp lực. Như vậy, tỷ lệ stress 
ở sinh viên răng hàm mặt rất cao và liên quan đến sự tự tin của bản thân, áp lực từ kỳ vọng của bố mẹ.
Tác giả liên hệ: Nguyễn Việt Anh
Trường Đại học Y Hà Nội
Email: vietanh.bsrhm@gmail.com
Ngày nhận: 27/04/2021
Ngày được chấp nhận: 16/05/2021
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, 
áp lực cuộc sống ngày càng tăng, stress trở 
thành vấn đề ngày càng phổ biến. Sinh viên 
ngành y nói chung và sinh viên răng hàm mặt 
nói riêng là nhóm đối tượng nhạy cảm, có nguy 
cơ stress rất cao do những khó khăn trong cuộc 
sống và trong học tập.1 Sinh viên răng hàm mặt 
phải học tập, ghi nhớ nhiều kiến thức lý thuyết và 
luyện tập các kỹ năng tiền lâm sàng, lâm sàng 
ngay từ những năm học đầu tiên. Bên cạnh đó 
áp lực kinh tế, áp lực thi cử, thời gian học cả 
ngày ở trường, phải trực đêm tại bệnh viện 
khiến sinh viên răng hàm mặt dễ bị stress.2
Theo Tedesco và một số tác giả, stress gây 
ra các ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình học 
tập của sinh viên răng hàm mặt và có thể dẫn 
tới các vấn đề sức khỏe tâm thần khác như lo 
âu, trầm cảm3,4 Trên thế giới, đã có nhiều tác 
giả nghiên cứu về thực trạng stress và các yếu 
tố liên quan đến stress ở sinh viên nha khoa 
như Peker I,5 Tangade PS và cộng sự6 Ở Việt 
Nam, hiện chưa có nghiên cứu về stress ở đối 
tượng sinh viên răng hàm mặt, do đó chúng tôi 
tiến hành nghiên cứu này với mục đích: mô tả 
thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở 
sinh viên răng hàm mặt trường Đại học Y Hà 
Nội năm 2020 - 2021.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu là các sinh viên Răng 
Hàm Mặt đang học tập tại Viện Đào tạo Răng 
Hàm Mặt – Trường Đại học Y Hà Nội. Nghiên 
cứu được tiến hành từ tháng 03 năm 2020 đến 
tháng 03 năm 2021.
Tiêu chuẩn lựa chọn: sinh viên Răng Hàm 
Mặt đang học tập tại Viện Đào tạo Răng Hàm 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
69TCNCYH 142 (6) - 2021
Mặt – Trường Đại học Y Hà Nội, đồng ý tự 
nguyện tham gia nghiên cứu và trả lời đầy đủ 
các câu hỏi trong bộ câu hỏi phỏng vấn.
Tiêu chuẩn loại trừ: sinh viên có chẩn đoán 
hoặc có tiền sử bị rối loạn sức khỏe tâm thần, 
có các dấu hiệu của tổn thương về tinh thần và 
nhận thức ảnh hưởng đến việc trả lời bộ câu 
hỏi trong nghiên cứu.
2. Phương pháp
Nghiên cứu được thực hiện theo phương 
pháp mô tả cắt ngang.
Cỡ mẫu: áp dụng công thức tính cỡ mẫu 
cho việc xác định một tỉ lệ trong cộng đồng 
trong nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Trong đó:
n là cỡ mẫu tối thiểu.
p = 0,63 là tỷ lệ sinh viên bị stress tại trường 
Đại học Y Hà Nội theo nghiên cứu Phạm Thị 
Huyền Trang năm 2013.7
α là mức ý nghĩa thống kê, chọn α = 0,05, tra 
bảng Z = 1,96.
∆ là sai số ngẫu nhiên của ước lượng, ở đây 
chọn ∆ = 0,05.
Từ đó tính được n = 358,2. Vậy cỡ mẫu tối 
thiểu cần 359 sinh viên. Thực tế chúng tôi tiến 
hành nghiên cứu được 383 sinh viên.
Chọn mẫu: chọn mẫu có chủ đích, lựa chọn 
sinh viên đang học tại Viện Đào tạo Răng hàm 
mặt, trường Đại học Y Hà Nội thoả mãn tiêu 
chuẩn lựa chọn và không có yếu tố nào thuộc 
tiêu chuẩn loại trừ cho đến khi đủ cỡ mẫu 
nghiên cứu.
Các bước tiến hành nghiên cứu: 
(1) Thiết kế phiếu điều tra, 
(2) Tập huấn điều tra viên, 
(3) Liên hệ thời gian và địa điểm thu thập 
số liệu, 
(4) Lựa chọn đối tượng nghiên cứu theo tiêu 
chuẩn lựa chọn, 
(5) Điều tra viên thu thập số liệu theo phiếu 
điều tra, 
(6) Kiểm tra, nhập và xử lý số liệu, 
(7) Viết báo cáo.
Bộ câu hỏi trong nghiên cứu sử dụng 
thang đo DASS 21 để đánh giá tỷ lệ và mức 
độ stress. Thang đo DASS 21 đã được Viện 
Sức khỏe Tâm thần Quốc gia biên dịch, thử 
nghiệm trên một số đối tượng nghề nghiệp 
khác nhau. Thang đo DASS 21 đã được 
một số nghiên cứu đánh giá về tính giá trị 
và độ tin cậy và khẳng định có thể thể áp 
dụng tại Việt Nam, không có sự khác biệt về 
mặt văn hóa.8
3. Xử lý số liệu 
Số liệu được nhập và quản lý bằng phần 
mềm Excel 2010 và được phân tích bằng phần 
mềm SPSS 20.0.
4. Đạo đức nghiên cứu 
Nghiên cứu đã thông qua hội đồng đạo đức 
nghiên cứu Y sinh học – Trường đại học Y Hà 
Nội, mã số 213/GCN-HĐĐĐNCYSH-ĐHYHN 
ngày 03 tháng 03 năm 2021.
III.KẾT QUẢ
1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Bảng 1. Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
 N %
Tuổi trung bình 20,47 ± 1,92
Cỡ mẫu: áp dụng công thức tính cỡ mẫu ho việ xác định một tỉ lệ trong cộng đồng 
trong nghiên cứu mô tả cắt ngang. 
n = Z$(&'(/$)
p. (1 − p)
∆$
Trong đó: 
- n là cỡ mẫu tối thiểu. 
- p = 0,63 là tỷ lệ sinh viên bị stress tại trường Đại học Y Hà Nội theo nghiên 
cứu Phạm Thị Huyền Trang năm 20137. 
- α là mức ý nghĩa thống kê, ... 
2,16 (1,35 - 3,43) 0,001
Có 44,14 26,77
2. Yếu tố cá nhân
Khó khăn về tài chính
Không 48,44 64,57
1,93 (1,25 - 3,00) 0,003
Có 51,56 35,43
Thiếu thời gian nghỉ ngơi
Không 61,42 46,88
1,80 (1,16 - 2,78) 0,008
Có 38,58 53,13
Thiếu thời gian cho các quan hệ xã hội
Không 54,3 74,02
2,39 (1,50 - 3,82) 0,000
Có 45,7 25,98
Thiếu tự tin vào bản thân
Không 28,52 59,06
3,61 (2,31 - 5,64) 0,000
Có 71,48 40,94
1 năm qua, gia đình có biến cố ảnh hưởng đến tâm lý 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
72 TCNCYH 142 (6) - 2021
Nội dung
Stress
OR (95%CI) P
Có (%) Không (%)
Không 82,81 95,28
4,18 (1,73 - 10,10) 0,001
Có 17,19 4,72
Thường xuyên luyện tập thể dục, thể thao
Không 43,36 275,6
0,49 (0,31 - 0,78) 0,003
Có 56,64 72,44
Trong 01 năm có mất người thân
Không 92,97 98,43
4,72 (1.07 - 20.69) 0,039
Có 7,03 1,57
Trong 01 năm có mất tài sản có giá trị
Không 78,91 96,85
6,67 (2,60 - 17,13) 0,000
Có 21,09 3,15
Tự đánh giá tình trạng sức khỏe của bản thân
Không khỏe & rất yếu 30,47 8,02
0,27 (0,15 - 0,51) 0,000
Bình thường & khỏe mạnh 69,53 91,98
Sự kỳ vọng của bố mẹ khiến cảm thấy áp lực
Không 42,19 68,5
2,98 (1,90 - 4,67) 0,001
Có 57,81 31,5
Lo lắng mình không trở thành 1 bác sỹ giỏi 
Không 12,11 25,2
2,44 (1,41 - 4,23) 0,001
Có 87,89 74,8
3. Yếu tố trường học
Dễ dàng tiếp cận, trao đổi với các giảng viên
Không 51,95 40,94
0,64 (0,41 - 0,89) 0,043
Có 48,05 59,06
Không khí học tập gây vấn đề tâm lý, sức khỏe
Không 69,14 85,83
2,70 (1,53 - 4,75) 0,001
Có 30,86 14,17
Hài lòng với cách quản lý, sắp xếp lịch học
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
73TCNCYH 142 (6) - 2021
Nội dung
Stress
OR (95%CI) P
Có (%) Không (%)
Không 42,97 30,71
0,58 (0,37 - 0,92) 0,021
Có 57,03 69,29
4. Chương trình học tập
Phải học tập, làm việc cả ngày
Không 24,22 37,8
1,90 (1,20 - 3,00) 0,006
Có 75,78 62,2
Áp lực thi cử và điểm thi
Không 10,55 24,41
2,73 (1,55 - 4,83) 0,001
Có 89,45 75,59
Cạnh tranh với các bạn cùng khóa
Không 51,17 70,08
2,23 (1,42 - 3,51) 0,000
Có 48,83 29,92
Lo sợ thi trượt môn
Không 26,17 40,94
1,95 (1,24 - 3,06) 0,004
Có 73,83 59,06
Chương trình học tập mới
Không 45,31 62,99
2,05 (1,32 - 2,17) 0,001
Có 54,69 37,01
5. Yếu tố học lâm sàng
Khó khăn trong việc tiếp cận, nhận sự hỗ trợ từ giảng viên
Không 40,2 59,52
2,18 (1,05 - 4,55) 0,036
Có 59,8 40,48
Khi tiến hành phân tích đơn biến, chúng tôi thấy nhóm yếu tố cá nhân có nhiều yếu tố liên quan 
đến stress nhất như: khó khăn tài chính, thiếu thời gian nghỉ ngơi, thiếu tự tin vào bản thân, sự kỳ 
vọng của bố mẹ Tiếp theo là các yếu tố thuộc nhóm chương trình học tập: phải học cả ngày, áp 
lực thi cử, lo sợ thi trượt, cạnh tranh với bạn cùng khóa (bảng 2). Phân tích hồi quy đa biến logistic 
chỉ còn 2 yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê là: sự thiếu tự tin vào bản thân (OR = 3,56; p=0,02) 
và sự kỳ vọng cao của bố mẹ (OR = 3,50; p= 0,029) (bảng 3).
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
74 TCNCYH 142 (6) - 2021
Bảng 3. Mô hình hồi quy logistic tìm yếu tố liên quan đến tình trạng stress 
(phân tích đa biến)
Yếu tố trong mô hình
Hệ số 
hồi quy
Sai số 
chuẩn
P OR (95%CI)
Thiếu tự tin vào bản thân 1,27 1,95 0,020 3,56 (1,21 - 10,41)
Sự kỳ vọng của bố mẹ khiến cảm 
thấy áp lực
1,25 2,01 0,029 3,50 (1,14 - 10,78)
IV. BÀN LUẬN
Về thực trạng stress
Tỷ lệ sinh viên răng hàm mặt có stress trong 
nghiên cứu của chúng tôi là 66,84%, tương 
đồng với kết quả nghiên cứu của một số tác 
giả trong nước như nghiên cứu của Phạm Thị 
Huyền Trang ở sinh viên Đại học Y Hà Nội 
(63,6%),7 nghiên cứu của Nguyễn Việt Anh 
ở sinh viên trường Đại học Công nghệ - Đại 
học Quốc gia (68,0%).9 Một số nghiên cứu 
của các tác giả trên thế giới cũng cho kết quả 
tỷ lệ stress ở sinh viên nha khoa rất cao như 
Mahawar (86,7%)...10 Điều này cho thấy, tình 
trạng stress nói riêng và vấn đề sức khỏe tâm 
thần nói chung ở sinh viên răng hàm mặt cần 
được quan tâm.
Theo năm học, sinh viên năm thứ 6 và sinh 
viên năm thứ 5 có tỷ lệ stress cao nhất lần lượt 
là 73,97% và 71,79%, điều này có lẽ bởi sinh 
viên các năm cuối có khối lượng học tập nhiều 
hơn, phải trực tiếp khám và điều trị cho bệnh 
nhân, áp lực thi cử tốt nghiệp Kết quả này 
cũng tương tự nghiên cứu của Morse và Dravo, 
sinh viên 2 năm cuối có tỷ lệ stress cao nhất.11
Tỷ lệ stress ở sinh viên nữ là 68,91% cao 
hơn so với tỷ lệ ở sinh viên nam 63,45%, tuy 
nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống 
kê. Theo một số nghiên cứu của các tác giả trên 
thế giới, tỷ lệ stress ở sinh viên nữ thường cao 
hơn so với sinh viên nam như nghiên cứu của 
I. Peker và cộng sự.5 Các nghiên cứu đưa ra lời 
giải thích sinh viên nữ thường nhạy cảm hơn về 
các vấn đề xảy ra xung quanh và cũng thường 
có những suy nghĩa hay cảm nhận quá mức so 
với bình thường.12
Về các yếu tố liên quan
Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi sắp 
xếp các yếu tố liên quan đến stress ở sinh viên 
răng hàm mặt thành 5 nhóm gồm: điều kiện 
sống, yếu tố cá nhân, yếu tố trường học, chương 
trình học tập và yếu tố học lâm sàng. Nhóm 
yếu tố cá nhân có nhiều yếu tố liên quan đến 
stress ở sinh viên nhất, có thể kể đến như: sự 
thiếu tự tin vào bản thân, khó khăn về tài chính, 
tình trạng sức khỏe bản thân Tiếp theo, nhóm 
yếu tố chương trình học tập cũng góp phần gây 
stress cho sinh viên như: phải học tập, làm việc 
cả ngày, áp lực thi cử, lo lắng thi trượt hoặc 
chương trình học tập mới Ngoài ra các yếu 
tố như không khí học tập tại trường lớp, sự sẵn 
sàng hỗ trợ từ các giảng viên cũng là yếu tố 
ảnh hưởng đến thực trạng stress ở sinh viên. 
Đối với sinh viên các năm cuối đã đi học lâm 
sàng, bên cạnh áp lực từ bệnh nhân thì những 
khó khăn trong việc tiếp cận sự hỗ trợ từ giảng 
viên khi thực hành lâm sàng cũng khiến các em 
lo lắng, căng thẳng.
Khi tiến hành phân tích hồi quy đa biến, hai 
yếu tố liên quan đến stress ở sinh viên răng 
hàm mặt là sự thiếu tự tin vào bản thân (OR 
= 3,56, p < 0,05) và yếu tố sự kỳ vọng của bố 
mẹ (OR = 3,5, p < 0,05). Kết quả nghiên cứu 
của chúng tôi có thể giải thích bởi đặc thù của 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
75TCNCYH 142 (6) - 2021
sinh viên y nói chúng và sinh viên răng hàm 
mặt nói riêng phải trải qua quá trình học tập, 
rèn luyện căng thẳng để đáp ứng được các yêu 
cầu, tiêu chuẩn của chương trình đào tạo, đặc 
biệt trong các kỳ thi lý thuyết và lâm sàng. Do 
đó với những sinh viên không tự tin vào bản 
thân khi phải đối mặt với khó khăn, áp lực từ 
quá trình học tập, thi cử hoặc khi có kết quả thi 
không tốt sẽ rất dễ nảy sinh các trạng thái cảm 
xúc tiêu cực như mệt mỏi, chán chườngdẫn 
đến stress. Mặt khác, các bậc phụ huynh luôn 
có kỳ vọng cao đối với con của mình, đặc biệt 
với các bạn sinh viên răng hàm mặt đều luôn 
là học sinh giỏi, đạt kết quả học tập xuất sắc 
khi học phổ thông hay nói một cách khác bố 
mẹ đã quen với việc con mình luôn được điểm 
9, điểm 10 trong mỗi kỳ thi. Do đó khi kết quả 
học ở trường Y của các bạn sinh viên không 
cao, thậm chí thi trượt, không đạt kỳ vọng của 
phụ huynh thì chính bố mẹ sẽ cảm thấy thất 
vọng, không hài lòng. Khi đó bố mẹ có thể có 
những lời nói, hành động thậm chí là hình phạt 
gây áp lực lên các bạn sinh viên, dẫn tới làm 
tăng nguy cơ stress. Kết quả nghiên cứu của 
chúng tôi cũng phù hợp với một số nghiên cứu 
khác trên thế giới như theo nghiên cứu của 
Sreeramareddy và cộng sự,13 kỳ vọng cao của 
bố mẹ là một trong các nguyên nhân chính gây 
stress ở sinh viên ngành Y, nghiên cứu của 
Gomathi và cộng sự cho kết quả yếu tố kỳ vọng 
cao của bố mẹ là nguyên nhân gây stress phổ 
biến thứ 2 ở sinh viên Y khoa.14
Các nghiên cứu trên thế giới cũng chỉ ra 
rằng các yếu tố thuộc nhóm chương trình học 
tập và yếu tố học lâm sàng là hai nhóm yếu tố 
gây stress cho sinh viên nha khoa nhiều nhất.15 
Theo Kumar và cộng sự, các yếu tố hàng đầu 
gây stress cho sinh viên nha khoa là: áp lực thi 
cử và điểm số, phải học tập cả ngày, lo sợ thi 
trượt, lo lắng thất nghiệp khi ra trường, không 
khí học tập tạo ra bởi giảng viên16... Điều đó cho 
thấy, để giảm bớt tình trạng stress ở sinh viên 
nha khoa cần các giải pháp ở nhiều lĩnh vực 
khác nhau như cải tiến chương trình học tập, 
cách thi cử cũng như cần sự quan tâm hỗ trợ 
của giảng viên, đặc biệt khi sinh viên học lâm 
sàng, về phía gia đình, bố mẹ cũng không 
nên đặt kỳ vọng quá cao, gây thêm áp lực cho 
các bạn sinh viên, đặc biệt khi kết quả học tập 
không được như mong muốn của bố mẹ.
V. KẾT LUẬN
Tỷ lệ stress ở sinh viên Răng hàm mặt – 
Trường Đại học Y Hà Nội là 66,84%. Theo 
giới tính, tỷ lệ stress ở nam là 63,45%, ở nữ 
là 68,91%; theo năm học tỷ lệ stress cao nhất 
ở sinh viên năm thứ 6 (73,97%), thấp nhất ở 
sinh viên năm thứ 4 với 60,66%. Stress ở sinh 
viên nha khoa có liên quan đến một số yếu tố, 
trong đó có hai yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất 
là sự thiếu tự tin vào bản thân và áp lực từ sự 
kỳ vọng của bố mẹ. Nghiên cứu của chúng tôi 
mới chỉ tiến hành trên sinh viên răng hàm mặt 
Trường Đại học Y Hà Nội và lấy số liệu tại 1 thời 
điểm nghiên cứu, do vậy nên có các nghiên 
cứu tiếp theo ở các trường đại học khác có hệ 
đào tạo bác sỹ răng hàm mặt và có thể lấy số 
liệu ở những thời điểm khác nhau trong năm 
học, để so sánh tỷ lệ stress ở sinh viên giữa các 
trường, ở các thời điểm khác nhau và xác định 
thêm các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến stress 
ở sinh viên răng hàm mặt. 
Lời cảm ơn
Nhóm nghiên cứu xin bày tỏ lời cảm ơn tới 
các sinh viên đã tham gia vào nghiên cứu và 
Viện Đào tạo Răng hàm mặt – Trường Đại học 
Y Hà Nội đã hỗ trợ để thực hiện nghiên cứu này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tosevski DL, Milovancevic MP, Ga-
jic SD. Personality and psychopathology 
of university students: Current Opinion in 
Psychiatry. 2010;23(1):48-52. doi:10.1097/
YCO.0b013e328333d625
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
76 TCNCYH 142 (6) - 2021
2. Birks Y, McKendree J, Watt I. Emotional 
intelligence and perceived stress in healthcare 
students: a multi-institutional, multi-professional 
survey. BMC Medical Education. 2009;9(1):61. 
doi:10.1186/1472-6920-9-61
3. Piazza-Waggoner CA, Cohen LL, Kohli K, 
Taylor BK. Stress management for dental stu-
dents performing their first pediatric restorative 
procedure. J Dent Educ. 2003;67(5):542-548.
4. Sanders AE, Lushington K. Sources of 
stress for Australian dental students. J Dent 
Educ. 1999;63(9):688-697.
5. Peker İ. The evaluation of perceived 
sources of stress and stress levels among 
Turkish dental students. International Dental 
Journal. Published online April 1, 2009:103-111. 
doi:10.1922/IDJ_2010Peker09
6. Tangade PS, Mathur A, Gupta R, Chaud-
hary S. Assessment of Stress Level among 
Dental School Students: An Indian Outlook. 
Dent Res J (Isfahan). 2011;8(2):95-101.
7. Phạm Thị Huyền Trang. Thực trạng stress 
ở sinh viên đại học Y Hà Nội năm 2013. Pub-
lished online 2013.
8. Trần Đức Thạch, Trần Tuấn, Fisher J. Val-
idation of the depression anxiety stress scales 
(DASS) 21 as a screening instrument for de-
pression and anxiety in a rural community-based 
cohort of northern Vietnamese women. BMC 
Psychiatry. 2013;13(1):24. doi:10.1186/1471-
244X-13-24
9. Nguyễn Việt Anh. Thực trạng và các yếu 
tố liên quan đến stress của sinh viên năm thứ 
3 Trường đại học công nghệ, Đại học Quốc gia 
Hà Nội năm 2015. Published online 2015.
10. Mahawar P, Phadnis S, Ghosh G, Ka-
taria O, Dixit S. Psychological Morbidity in Stu-
dents of Medical College and Science and Art 
College Students - A Comparative Study. :3.
11. Morse Z, Dravo U. Stress levels of den-
tal students at the Fiji School of Medicine. Eur 
J Dent Educ. 2007;11(2):99-103. doi:10.1111/
j.1600-0579.2007.00435.x
12. Deshpande A, Chari S. Perceived Sourc-
es of Stress and Coping Strategies in Dental 
Students and Interns. Journal of Psychology. 
2014;5(2):133-141. doi:10.1080/09764224.201
4.11885513
13. Sreeramareddy CT, Shankar PR, Binu 
V, Mukhopadhyay C, Ray B, Menezes RG. 
Psychological morbidity, sources of stress 
and coping strategies among undergraduate 
medical students of Nepal. BMC Med Educ. 
2007;7(1):26. doi:10.1186/1472-6920-7-26
14. Gomathi KG, Ahmed S, Sreedharan 
J. Causes of Stress and Coping Strategies 
Adopted by Undergraduate Health Profes-
sions Students in a University in the United 
Arab Emirates. Sultan Qaboos Univ Med J. 
2013;13(3):437-441.
15. Elani HW, Kumar RA, Bedos C. A Sys-
tematic Review of Stress in Dental Students. 
Journal of Dental Education. 2014;78(2):17.
16. Kumar S, Dagli RJ, Mathur A, Jain M, 
Prabu D, Kulkarni S. Perceived sources of 
stress amongst Indian dental students. Europe-
an Journal of Dental Education. 2009;13(1):39-
45. doi:10.1111/j.1600-0579.2008.00535.x
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
77TCNCYH 142 (6) - 2021
Summary
PREVALENCE OF STRESS AND SOME OF ITS RELATED-FACTORS 
AMONG DENTAL STUDENTS OF HANOI MEDICAL UNIVERSITY
Dental students have high risk of stress. Stress can cause negative affect on the mental health, 
study ability and life quality of dental students. In Vietnam, study about stress among dental student 
was not yet performed so we did this study to investigate the prevalence of stress and its related 
factors among dental students in Hanoi Medical University. This was a cross-sectional descriptive 
study comprised of 383 dental students in Hanoi medical university. 256 out of 383 students suffered 
stress (66.84%). The prevalence of stress in male was 63.45% and in female was 68.91%. The ratio 
of stress level of moderate, severe and very severe were 34.46%, 8.88% and 6.27% respectively. 
6th-year-students reach the highest stress ratio (73.97%). Some related-factors included lack of self-
belief and parental high expectation. The stress prevalence of dental students was very high and its 
related factor included: lack of self-belief and parental high expectation.
Keyword: stress, dental students, lack of self-belief, parental high expectation.

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_stress_va_mot_so_yeu_to_lien_quan_o_sinh_vien_ran.pdf