Tình hình sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm sú và tôm chân trắng ở Việt Nam

Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích đánh giá tình hình sử dụng kháng sinh trong

nuôi tôm sú và tôm chân trắng ở Việt Nam. Số hộ nuôi tôm được phỏng vấn ở cả 3 miền Bắc,

Trung và Nam lần lượt là 57, 60 và 90 nông hộ. Các thông tin trong phiếu điều tra chủ yếu liên

quan đến các loại kháng sinh sử dụng, liều lượng, tần suất sử dụng và hiệu quả phòng trị. Ở

miền Bắc, có 11 loại kháng sinh đã được hộ nuôi sử dụng trong nuôi tôm như oxytetracycline,

Osamet (sulfadimethoxine + ormetoprim), tetracycline, enrofloxacin, doxycycline, ciprofloxacin,

florfenicol, biosultrim (trimethoprim + sulfadimidine), Cloxit (chloramphenicol), erythromycin và

trifamet (sulfamethoxazole + trimethoprim + rifamycin). Trong đó oxytetracycline, tetracycline

và enrofloxacin là 3 loại kháng sinh được sử dụng nhiều nhất. Tại miền Trung, có 71,2% nông hộ

cho biết có sử dụng kháng sinh trong vụ nuôi với hơn 10 loại kháng sinh đang được người nuôi sử

dụng trong phòng trị bệnh tôm. Oxytetracycline, ciprofloxacin, doxycycline là ba loại kháng sinh

được sử dụng nhiều trong phòng trị bệnh tôm tại miền Trung. Tại miền Nam, có 68,9% nông hộ

cho biết có sử dụng kháng sinh trong vụ nuôi với hơn 15 loại kháng sinh đang được người nuôi sử

dụng trong phòng trị bệnh tôm. Oxytetracycline, doxycyline và enrofloxacin là ba loại kháng sinh

được sử dụng nhiều trong phòng trị bệnh tôm tại miền Nam. Về hiệu quả sử dụng kháng sinh, có

20-50% hộ nuôi cho biết sử dụng kháng sinh có hiệu quả, 30% cho biết không có hiệu quả và 20%

không biết được hiệu quả mang lại khi sử dụng kháng sinh. Các loại kháng sinh nhạy đối với Vibrio

parahaemolyticus là gentamicin, flofenicol, oxytetracycline, doxycycline và tetracycline.

Tình hình sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm sú và tôm chân trắng ở Việt Nam trang 1

Trang 1

Tình hình sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm sú và tôm chân trắng ở Việt Nam trang 2

Trang 2

Tình hình sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm sú và tôm chân trắng ở Việt Nam trang 3

Trang 3

Tình hình sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm sú và tôm chân trắng ở Việt Nam trang 4

Trang 4

Tình hình sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm sú và tôm chân trắng ở Việt Nam trang 5

Trang 5

Tình hình sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm sú và tôm chân trắng ở Việt Nam trang 6

Trang 6

Tình hình sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm sú và tôm chân trắng ở Việt Nam trang 7

Trang 7

Tình hình sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm sú và tôm chân trắng ở Việt Nam trang 8

Trang 8

Tình hình sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm sú và tôm chân trắng ở Việt Nam trang 9

Trang 9

Tình hình sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm sú và tôm chân trắng ở Việt Nam trang 10

Trang 10

Tải về để xem bản đầy đủ

pdf 14 trang minhkhanh 4380
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Tình hình sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm sú và tôm chân trắng ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tình hình sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm sú và tôm chân trắng ở Việt Nam

Tình hình sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm sú và tôm chân trắng ở Việt Nam
10 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG NUÔI TÔM SÚ VÀ TÔM 
CHÂN TRẮNG Ở VIỆT NAM
Lê Hồng Phước1*, Nguyễn Diễm Thư1, Hứa Ngọc Phúc2, Phạm Thị Yến3
TÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích đánh giá tình hình sử dụng kháng sinh trong 
nuôi tôm sú và tôm chân trắng ở Việt Nam. Số hộ nuôi tôm được phỏng vấn ở cả 3 miền Bắc, 
Trung và Nam lần lượt là 57, 60 và 90 nông hộ. Các thông tin trong phiếu điều tra chủ yếu liên 
quan đến các loại kháng sinh sử dụng, liều lượng, tần suất sử dụng và hiệu quả phòng trị. Ở 
miền Bắc, có 11 loại kháng sinh đã được hộ nuôi sử dụng trong nuôi tôm như oxytetracycline, 
Osamet (sulfadimethoxine + ormetoprim), tetracycline, enrofloxacin, doxycycline, ciprofloxacin, 
florfenicol, biosultrim (trimethoprim + sulfadimidine), Cloxit (chloramphenicol), erythromycin và 
trifamet (sulfamethoxazole + trimethoprim + rifamycin). Trong đó oxytetracycline, tetracycline 
và enrofloxacin là 3 loại kháng sinh được sử dụng nhiều nhất. Tại miền Trung, có 71,2% nông hộ 
cho biết có sử dụng kháng sinh trong vụ nuôi với hơn 10 loại kháng sinh đang được người nuôi sử 
dụng trong phòng trị bệnh tôm. Oxytetracycline, ciprofloxacin, doxycycline là ba loại kháng sinh 
được sử dụng nhiều trong phòng trị bệnh tôm tại miền Trung. Tại miền Nam, có 68,9% nông hộ 
cho biết có sử dụng kháng sinh trong vụ nuôi với hơn 15 loại kháng sinh đang được người nuôi sử 
dụng trong phòng trị bệnh tôm. Oxytetracycline, doxycyline và enrofloxacin là ba loại kháng sinh 
được sử dụng nhiều trong phòng trị bệnh tôm tại miền Nam. Về hiệu quả sử dụng kháng sinh, có 
20-50% hộ nuôi cho biết sử dụng kháng sinh có hiệu quả, 30% cho biết không có hiệu quả và 20% 
không biết được hiệu quả mang lại khi sử dụng kháng sinh. Các loại kháng sinh nhạy đối với Vibrio 
parahaemolyticus là gentamicin, flofenicol, oxytetracycline, doxycycline và tetracycline.
Từ khóa: AHPND, tôm, kháng sinh.
1 Trung tâm Quan trắc Môi trường & Bệnh Thủy sản Nam Bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II.
2 Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản III
3 Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản I
* E-mail: lehongphuoc@yahoo.com
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ năm 2010, trên tôm nuôi xuất hiện hội 
chứng chết sớm (Early Mortality Syndrome- 
EMS) hay còn gọi là bệnh hoại tử gan tụy cấp 
tính (Acute Hepatopancreatic Necrosis Disease 
- AHPND) được ghi nhận tại Trung Quốc, 
Malaysia và Thái Lan. Ở Trung Quốc EMS 
xuất hiện đầu tiên năm 2009 nhưng chưa được 
người nuôi chú ý đến. Đến năm 2011 bệnh trở 
nên trầm trọng hơn ở những trang trại nuôi trên 
5 năm và gần biển (Panakorn, 2012). Các trang 
trại nuôi tôm ở Hainan, Guangdong, Fujian 
và Guangxi bị thiệt hại trong 6 tháng đầu năm 
2011 với khoảng 80%. Ở Malaysia, bệnh xuất 
hiện lần đầu vào giữa năm 2010 tại 2 bang 
Pahang và Joho sau đó lan rộng sang các vùng 
khác. Sự bùng phát EMS đã làm giảm sản lượng 
đáng kể của tôm thẻ chân trắng (khoảng 60%). 
Năm 2013, ở Thái Lan, bệnh xuất hiện ở 2 tỉnh 
phía đông vịnh Thái Lan. Bệnh được ghi nhận 
và gây thiệt hại nặng trên cả tôm sú và tôm thẻ 
chân trắng. Bệnh thường xảy ra ở giai đoạn 
sau 15-40 ngày sau khi thả nuôi. Tôm bệnh có 
dấu hiệu giảm ăn, khối gan tụy có nhiều biến 
dạng bất thường như trương to và nhũn hoặc 
teo nhỏ, màu sắc nhợt nhạt, dấu hiệu khác cũng 
được ghi nhận bao gồm mềm vỏ, sậm màu. Tỷ 
lệ tôm chết có thể lên đến 100% trong vài ngày 
hoặc kéo dài hơn. Theo Lightner và ctv., (2013) 
bệnh hoại tử gan tụy cấp tính do vi khuẩn Vibrio 
parahaemolyticus gây ra. 
11TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
Hiện nay, thuốc và các loại kháng sinh được 
sử dụng rất thường xuyên trong nuôi trồng thủy 
sản ở Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu về 
vấn đề này vẫn còn rất hạn chế. Theo báo cáo 
của Mai Văn Tài và ctv., (2004), kháng sinh được 
sử dụng trong nuôi trồng thủy sản chủ yếu thuộc 
nhóm oxytetracycline bao gồm: Oxytetracycline, 
tetracycline và doxycycline. Trong đó, có khoảng 
32 loại kháng sinh được sử dụng trong các qui 
trình nuôi tôm thịt, 39 loại được sử dụng trong 
sản xuất tôm giống, 14 loại được sử dụng trong 
ương nuôi các loại cá biển, 41 loại trong nuôi 
cá lồng nước ngọt và 67 loại trong nuôi cá ao 
nước ngọt. Ngoài ra, theo nghiên cứu về sự tồn 
dư của 4 loại kháng sinh trimethprim (TMP), 
sulfamethoxazole (SMX), norfloxacin (NFXC) 
và oxolinic acid (OXLA) trong nước và trong 
bùn ở các ao nuôi tôm thuộc bốn khu vực khác 
nhau bao gồm Thái Bình, Nam Định, Cần Giờ 
và Cà Mau cho thấy cả bốn loại kháng sinh này 
đều được phát hiện trong các ao nuôi tôm với 
nồng độ cao nhất là TMP = 1,04 ppm, SMX = 
2,39 ppm, NFXC = 6,06 ppm và OXLA = 2,5 
ppm và trong bùn với nồng độ cao nhất là TMP 
= 734,61 ppm, SMX = 820,49 ppm, NFXC = 
2.615,96 ppm và OXLA = 426,31 ppm. Trong 
đó, không có sự khác biệt về sự hiện diện của 
các loại kháng sinh này giữa các ao nuôi quảng 
canh cải tiến và quảng canh nhưng lại có sự khác 
biệt khá lớn giữa các vùng nuôi tôm được khảo 
sát. Đối với loại kháng sinh NFXC, nồng độ cao 
nhất được ghi nhận trong các ao nuôi quảng canh 
ở Nam Định và trong bùn ở các ao quảng canh 
ở Cần Giờ và Cà Mau (Le và Munekage, 2004). 
Cũng theo thông tin từ nghiên cứu này, kháng 
sinh và các loại hóa chất khác thường được sử 
dụng trong tháng nuôi đầu tiên và được sử dụng 
với hàm lượng cao khi tôm có triệu chứng bệnh. 
Các loại kháng sinh thường ở dạng bột và được 
trộn chung với thức ăn thương mại. 
Trong năm 2016, thực hiện chỉ đạo của Bộ 
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Thú 
y đã chủ trì triển khai phòng, chống dịch bệnh 
trên tôm (tại Sóc Trăng và Bạc Liêu) và trên cá 
tra (tại Bến Tre, Đồng Tháp và An Giang) trong 
đó có nội dung khảo sát trực tiếp tại các hộ nuôi 
trồng thủy sản về tình hình sử dụng kháng sinh. 
Kết quả điều tra tại 218 hộ nuôi thâm canh và bán 
thâm canh ... g trong thủy 
sản bao gồm chlortetracycline, quinolones, 
ciprofloxacin, norfloxacin, oxilinic acid, 
perfloxacin, sulfamethazine, gentamicin 
và tiamulin. Oxytetracycline thuộc nhóm 
tetracycline được sử dụng rộng rãi để điều 
trị các bệnh nhiễm khuẩn như Vibriosis và 
Furunculosis (Capone và ctv., 1996; Prescott 
và ctv., 2000; Reed và ctv., 2006). Thông tin 
chính thức về việc sử dụng enrofloxacin trong 
nuôi tôm chân trắng rất ít, tuy nhiên có nhiều 
nghiên cứu về dược động học của kháng sinh 
này trên tôm sú (Penaeus monodon), tôm he 
Trung Quốc (Penaeus chinensis) (Intorre và 
ctv., 2000; Tu và ctv., 2008; Wen và ctv., 2007; 
Xu và ctv., 2006). Florfenicol là loại kháng sinh 
có hiệu quả trong trị các bệnh do Pasteurella 
piscicida, Aeromonas salmonicida, Vibrio 
anguillarum và Edwardsiella tarda (Yanong 
và Curtis, 2005).
3.4. Tình hình kháng kháng sinh của 
Vibrio parahaemolyticus gây bệnh hoại tử gan 
tụy cấp tính trên tôm nuôi nước lợ ở Việt Nam
Trong phạm vi của nghiên cứu này, kết 
hợp với điều tra thu thập thông tin về tình hình 
sử dụng kháng sinh trong tôm nuôi nước lợ ở 
Việt Nam là việc thu mẫu tôm, nước và bùn 
ao nuôi ở cả 3 vùng miền Bắc và Bắc Trung 
bộ, nam Trung bộ và ĐBSCL. Tổng cộng số 
mẫu thu được ở Bắc và Bắc Trung Bộ là 121 
(101 mẫu tôm, 10 mẫu nước và 10 mẫu bùn), 
ở nam Trung Bộ là 90 mẫu (30 mẫu nước, 30 
mẫu bùn và 30 mẫu tôm), ở ĐBSCL là 90 mẫu 
(30 mẫu tôm, 30 mẫu nước và 30 mẫu bùn). 
Tất cả các mẫu thu được phân lập và định danh 
V. parahaemolyticus gây bệnh hoại tử gan tụy 
cấp tính trên tôm bằng test kít API20E kết hợp 
với phản ứng PCR theo quy trình của Han 
và ctv., (2015). Kết quả thu được 2 chủng V. 
parahaemolyticus ở Bắc và Bắc Trung bộ, 7 
chủng ở Nam Trung bộ và 47 chủng ở ĐBSCL. 
Kết quả kiểm tra kháng sinh đồ trên tất cả các 
chủng vi khuẩn này đã tổng hợp được các loại 
kháng sinh kháng hoặc nhạy ở 3 miền Bắc, 
Trung và Nam (Bảng 2) làm cơ sở cho việc 
cảnh báo cũng như chọn lựa đúng kháng sinh 
trong trị bệnh hoại tử gan tụy cấp tính.
20 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
Bảng 2. Danh mục các kháng sinh nhạy và kháng đối với Vibrio parahaemolyticus 
TT Kháng sinh
Miền Bắc Miền Trung Miền Nam
Nhạy
Trung 
gian
Kháng Nhạy
Trung 
gian
Kháng Nhạy
Trung 
gian
Kháng
1 Ampicillin X X
2 Amoxicillin X X
3 Gentamicin X
4 Kanamycin X
5 Oxytetracycline X X X X
6 Tetracycline X X X
7 Doxycycline X X X X
8 Ciprofloxacin X X X X
9 Bactrim X X X
10 Norfloxacin X
11 Florfenicol X X X X
12 Neomycin X X
13 Erythromycin X X
14 Rifampycin X X
15 Streptomycin X X X
16 Cefotaxime X
Theo nghiên cứu của Costa và ctv., (2015), 
Vibrio kháng kháng sinh nhóm β-lactam và 
tetracycline trong môi trường nuôi tôm. Ngoài 
ra, việc phát hiện yếu tố kháng kháng sinh yếu 
tố trung gian plasmid cảnh báo cho khả năng 
chuyển theo truyền ngang của các gen kháng 
kháng sinh trong vi khuẩn. Theo nghiên cứu 
của Lai và ctv., (2015), dựa trên nồng độ ức 
chế tối thiểu (MIC) cho thấy cả hai chủng V. 
parahaemolyticus gây bệnh và không gây bệnh 
đã kháng nhiều thuốc kháng sinh.
Trong nghiên cứu của He và ctv., (2016), 
nhóm tác giả này phân lập được 400 chủng V. 
parahaemolyticus từ các mẫu tôm mua từ các 
chợ ở Shanghai năm 2013-2014. Kết quả kiểm 
tra tính kháng kháng sinh cho thấy tỷ lệ kháng 
với các loại kháng sinh lần lượt là ampicillin 
(99%), streptomycin (45,25%), rifampicin 
(38,25%) và spectinomycin (25,5 %). Tất cả 
các khuẩn lạc đều nhạy với chloramphenicol và 
tetracycline, 35/400 chủng đều nhạy với tất cả 
10 loại kháng sinh thử nghiệm gồm ampicillin, 
chloramphenicol, gentamicin, kanamycin, 
rifampicin, spectinomycin, streptomycin, 
sulfamethoxazole-trimethoprim, tetracycline 
và trimethoprim. Han và ctv., (2015) thử 
khả năng kháng kháng sinh của 8 chủng V. 
parahaemolyticus trong đó có 2 chủng phân lập 
từ Mexico và 8 chủng từ Việt Nam. Kết quả cho 
thấy 100% số chủng đề kháng với ampicillin, 
100% nhạy với flofenicol và nalidixic acid. Các 
chủng ở Việt Nam nhạy cảm với tetracycline và 
oxytetracycline trong khi các chủng ở Mexico 
đều kháng với 2 loại kháng sinh này.
IV. KẾT LUẬN
- Tại miền Bắc, có 11 loại kháng sinh đang 
được người nuôi sử dụng trong phòng trị bệnh 
tôm. Oxytetracycline (33,0%), osamet (16,5%), 
tetracycline (11,3%) là ba loại kháng sinh được sử 
dụng nhiều trong phòng trị bệnh tôm tại miền Bắc.
- Miền Trung có 71,2% nông hộ có sử 
dụng kháng sinh trong vụ nuôi với hơn 10 loại 
kháng sinh đang được người nuôi sử dụng trong 
phòng trị bệnh tôm. Oxytetracycline (57,6%), 
21TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
ciprofloxacin (21,2%), doxycycline (7,1%) là 
ba loại kháng sinh được sử dụng nhiều trong 
phòng trị bệnh tôm tại miền Trung.
- Tại miền Nam có 68,9% nông hộ sử 
dụng kháng sinh trong vụ nuôi với hơn 15 loại 
kháng sinh đang được người nuôi sử dụng trong 
phòng trị bệnh tôm. oxytetracycline (31,7%), 
doxycylin (12,7%) và enrofloxacin (7,9%) là 
ba loại kháng sinh được sử dụng nhiều trong 
phòng trị bệnh tôm tại miền Nam. Trong đó, 
enrofloxacin là loại kháng sinh đã bị cấm sử 
dụng tại thời điểm điều tra năm 2015.
- Trong số các loại kháng sinh được 
phép hoặc hạn chế sử dụng thì Vibrio 
parahaemolyticus gây bệnh hoại tử gan tụy cấp 
tính nhạy với các loại kháng sinh gentamicin, 
florfenicol, oxytetracycline, doxycycline và 
tetracycline.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
Cục Thú Y, 2016. Báo cáo tham luận tại Hội nghị 
Phát triển sản xuất, chế biến và tiêu thụ tôm nước 
lợ do Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn tổ 
chức tại tỉnh Bạc Liêu ngày 14/09/2016.
Mai Văn Tài, 2004. Đánh giá hiện trạng các loại 
thuốc, hóa chất và chế phẩm sinh học dùng trong 
nuôi trồng thủy sản nhằm đề xuất các giải pháp 
quản lý. Báo cáo tổng kết đề tài. Hà Nội, Viện 
Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I, Bộ Nông 
nghiệp & Phát triển nông thôn.
Huỳnh Thị Tú, Nguyễn Thanh Phương, Frédéric 
Silvestre, Caroline Douny, Châu Tài Tảo, Guy 
Maghuin-Rogister và Patrick Kestemont, 2006. 
Khảo sát tình hình sử dụng thuốc-hóa chất trong 
nuôi tôm và sự tồn lưu của enrofloxacin và 
furazolidone trong tôm sú (Penaeus monodon). 
Tạp chí Nghiên cứu Khoa học, Trường Đại học 
Cần Thơ: 70-78.
Tài liệu tiếng Anh
Capone, D. G., Weston, D. P., Miller, V. and 
Shoemaker, C., 1996. Antibacterial residues in 
marine sediments and invertebrates following 
chemotherapy in aquaculture. Aquaculture 
145(1-4): 55-75.
Chowdhury, A.A., Uddin, MdS, Vaumi, S. and Asif, 
A.A., 2015. Aqua drugs and 37. chemicals used 
in aquaculture of Zakigonj upazilla, Sylhet. Asian 
Jour nal of Medical and Biological Research 1: 
336-349.
Clinical and Laboratory Standards Institute, 2014. 
Performance standards for antimicrobial 
susceptibility testing, 24th informational 
supplement. Approved standard M100-S24. 
Clinical and Laboratory Standards Institute, 
Wayne, PA, 226 pp.
Costa, R.A., Araújo, R.L., Souza, O.V., and Silva, 
R.H., 2015. Antibiotic-Resistant Vibrios in 
Farmed Shrimp. Biomed Research International: 
505914.
He, Y., Jin, L., Sun, F., Hu, Q. and Chen, L., 2016. 
Antibiotic and heavy-metal resistance of Vibrio 
parahaemolyticus isolated from fresh shrimps 
in Shanghai fish markets. China Environmental 
Science and Pollution Research 23:15033–
15040.
Holmström, K., Gräslund, S., Wahlström, A., 
Poungshompoo, S., Bengtsson, B. E., & Kautsky, 
N., 2003. Antibiotic use in shrimp farming and 
implications for environmental impacts and 
human health. International journal of food 
science & technology 38(3): 255-266.
Intorre, L., Cecchini, S. and Bertini, S., 2000. 
Pharmacokinetics of enrofloxacin in the seabass 
(Dicentrarchus labrax). Aquaculture 182: 49–59.
Lai, H. C., Ng, T. H., Ando, M., Lee, C. T., Chen, 
I. T., Chuang, J. C. and Takeyama, H., 2015. 
Pathogenesis of acute hepatopancreatic necrosis 
disease (AHPND) in shrimp. Fish & shellfish 
immunology 47(2): 1006-1014.
Le, T. X. and Munekage, Y., 2004. Residues of 
selected antibiotics in water and mud from 
shrimp ponds in mangrove areas in Viet Nam. 
Marine pollution bulletin, 49(11-12:, 922-929.
Lightner, D.V., Redman, C.R., Pantoja, B.L., Noble, 
L.M., Nunan, Loc Tran, 2013. Documentation 
of an Emerging Disease (Early Mortality 
Syndrome) in SE Asia & Mexico. OIE Reference 
Laboratory for Shrimp Diseases, Department of 
Veterinary Science & Microbiology, School of 
Animal and Comparative Biomedical Sciences.
Love, D.C., Rodman, S., Neff, R.A., Nachman, 
K.E., 2011. Veterinary drug residues in seafood 
22 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
inspected by the European Union, United 
States, Canada, and Japan from 2000 to 2009. 
Environmental Science and Technology 45 (17): 
7232–7240.
Mishra, S.S., Das, R., Das, B.K., Choudhary, P., 
Rathod, R., 2017. Status of Aqua-medicines, 
Drugs and Chemicals Use in India: A Sur vey 
Report. Journal of Aquaculture and Fisheries 1: 
1-15.
Panakorn, S., 2012. Opinion article: more on early 
mortality syndrome in shrimp. Aqua Culture 
Asia Pacific. 8 (1): 8-10.
Prescott J.F., Baggot J.D., Walter D.R., 2000. 
Tetracyclines and Glycylcyclines. Antimicrobial 
Teraphy in Veterinary Medicine (Giguére, 
S.; Prescott, J.F.; Baggot, J.D.; Walker, R.D.; 
Dowling, P.M. (Ed)), 231.
Reed L.A., Siewicki T.C., Shah A.C., 2006. The 
biopharmaceutics and oral bioavailability of two 
forms of oxytetracycline to the white shrimp, 
Litopenaeus setiferus. Aquaculture 258: 223-245.
Roque, A., Molina-Aja, A., Bolan-Mejia, C. and 
Gomez-Gil, B., 2001. In vitro susceptibility to 
15 antibiotics of vibrios isolated from penaeid 
shrimps in Northwestern Mexico. International 
Journal of Antimicrobial Agents 17: 383-387. 
Soto-Rodríguez, S.A., Simoes, N., Roque, A., 
and Gómez Gil, B., 2006. Pathogenicity and 
colonization of Litopenaeus vannamei larvae by 
luminescent vibrios. Aquaculture 258: 109-15.
Tai, M.V., 2012. Use of veterinary medicines 
in Vietnamese aquaculture: current status.
In: Bondad-Reantaso, M.G., Arthur, J.R., 
Subasinghe, R.P., (Eds.), Improving Biosecurity 
Through Prudent and Responsible Use 
of Veterinary Medicines in Aquatic Food 
Production, pp. 91–98.
Tu, T.H., Silvestre, F., Bernard, A., Douny, C., 
Phuong, T.N., Tao, T.C., Maghuin-Rogiste, 
G., and Kestemont, P., 2008. Oxidative stress 
response of black tiger shrimp (Penaeus 
monodon) to enrofloxacin and to culture system. 
Aquaculture. 285: 244-248.
Uddin, S.A. and Kader, M.A., 2006. The Use of 
Antibiotic in Shrimp Hatcheries in Bangladesh. 
Journal of Fisheries and Aquatic Science 1: 64-67.
Wen, F., Shuai, Z., Kai, Z. and Si-cheng. L., 2007. 
Pharmacokinetics and tissue distribution of 
enrofloxacin and its metabolite ciprofloxacin 
in Scylla serrata following oral gavage at two 
salinities. Aquaculture 272: 180–187.
Xu, W., Xiaobin, Z., Xinting, W., Liping, D. 
and Gan, Z., 2006. Residues of enrofloxacin. 
furazolidone and their metabolites in Nile tilapia 
(Oreochromis niloticus). Aquaculture 254: 1–8.
Yanong, P. R. and Curtis, W.E., 2005. Pharmacokinetic 
studies of Florfenicol in Koi Carp and threespot 
gourami Trichogaster trichopterus after oral 
and intramuscular treatment. Journal of Aquatic 
Health 17: 129-137.
23TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
CURRENT STATUS OF ANTIBIOTIC USAGE IN BLACK TIGER 
SHRIMP AND WHITE LEG SHRIMP FARMING IN VIETNAM
Le Hong Phuoc1*, Nguyen Diem Thu2, Hua Ngoc Phuc2, Pham Thi Yen3
1 Southern Monitoring Center for Aquaculture Environment and Epidemics, Research Institute for Aquaculture No.2.
2 Research Institute for Aquaculture No.3
3 Research Institute for Aquaculture No.1
* Email: lehongphuoc@yahoo.com
ABSTRACT
This study was conducted to evaluate the current status of antibiotic usage in farming of black 
tiger shrimp and white-leg shrimp in Vietnam. Number of shrimp farmers interviewed in the 
Northern, Central and Southern Vietnam were 57, 60 and 90, respectively. The information in the 
questionnaire was mainly related to the antibiotics used, the dosage, the usage frequency and the 
treatment effectiveness. In the North, 11 types of antibiotics were used in shrimp farming such as 
oxytetracycline, Osamet (sulfadimethoxine + ormetoprim), tetracycline, enrofloxacin, doxycycline, 
ciprofloxacin, florfenicol, biosultrim (trimethoprim + sulfadimidine), chloroform (chloramphenicol) 
erythromycin and trifamate (sulfamethoxazole + trimethoprim + rifamycin). Oxytetracycline, 
tetracycline and enrofloxacin were the most commonly used antibiotics in this region. In the Central 
region, 71.2% of shrimp farmers reported of using antibiotics in the shrimp crop with more than 
ten types of antibiotics being used in treating of shrimp diseases. Oxytetracycline, ciprofloxacin 
and doxycycline were the most commonly used antibiotics in treating shrimp diseases in the central 
region. In the South, 68.9% of shrimp farmers reported of using antibiotics in the shrimp crop with 
more than 15 antibiotics being used in shrimp disease treatment. Oxytetracycline, doxycyline and 
enrofloxacin were the three antibiotics commonly used in preventing and treating of shrimp diseases. 
In relation to the effectiveness of antibiotics, 20-50% of households confirmed the effectiveness of 
antibiotics, 30% reported no effect and 20% could not give the answer. Vibrio parahaemolyticus 
causing AHPND disease was sensitive to gentamicin, florfenicol, oxytetracycline, doxycycline, and 
tetracycline.
Keywords: AHPND, shrimp, antibiotic
Người phản biện: TS. Lý Thị Thanh Loan 
Ngày nhận bài: 12/6/2018
Ngày thông qua phản biện: 29/6/2018
Ngày duyệt đăng: 10/7/2018

File đính kèm:

  • pdftinh_hinh_su_dung_khang_sinh_trong_nuoi_tom_su_va_tom_chan_t.pdf