Một cách kiến giải về hình ảnh con ngựa trong thành ngữ-Tục ngữ Tiếng Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận

Loài ngựa đƣợc thuần hóa và gắn bó với con ngƣời từ rất lâu. Có thể thấy những thành ngữ

- tục ngữ có yếu tố con ngựa chiếm một vị trí khá quan trọng trong các thành ngữ - tục ngữ

có thành tố động vật của tiếng Việt. Tiếp thu thành quả từ những công trình nghiên cứu đi

trƣớc, bài viết đã tổng hợp các thành ngữ - tục ngữ có yếu tố con ngựa trong ―Từ điển thành

ngữ - tục ngữ - ca dao Việt Nam‖ (Việt Chƣơng) và đƣa ra một góc nhìn về ý niệm con

ngựa xuất hiện trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt trên cơ sở lý luận của ngôn ngữ học tri

nhận. Ở đây, bài viết đã khai thác con ngựa xét ở góc độ là ―miền nguồn‖, trên cơ sở ―miền

đích‖ là ý nghĩa biểu đạt của thành ngữ - tục ngữ có yếu tố con ngựa. Từ đó, đƣa ra những

kiến giải về cơ chế lựa chọn con ngựa trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt, cũng nhƣ tìm

hiểu về phƣơng thức tƣ duy của ngƣời Việt

Một cách kiến giải về hình ảnh con ngựa trong thành ngữ-Tục ngữ Tiếng Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận trang 1

Trang 1

Một cách kiến giải về hình ảnh con ngựa trong thành ngữ-Tục ngữ Tiếng Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận trang 2

Trang 2

Một cách kiến giải về hình ảnh con ngựa trong thành ngữ-Tục ngữ Tiếng Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận trang 3

Trang 3

Một cách kiến giải về hình ảnh con ngựa trong thành ngữ-Tục ngữ Tiếng Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận trang 4

Trang 4

Một cách kiến giải về hình ảnh con ngựa trong thành ngữ-Tục ngữ Tiếng Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận trang 5

Trang 5

Một cách kiến giải về hình ảnh con ngựa trong thành ngữ-Tục ngữ Tiếng Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận trang 6

Trang 6

Một cách kiến giải về hình ảnh con ngựa trong thành ngữ-Tục ngữ Tiếng Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận trang 7

Trang 7

Một cách kiến giải về hình ảnh con ngựa trong thành ngữ-Tục ngữ Tiếng Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận trang 8

Trang 8

Một cách kiến giải về hình ảnh con ngựa trong thành ngữ-Tục ngữ Tiếng Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận trang 9

Trang 9

Một cách kiến giải về hình ảnh con ngựa trong thành ngữ-Tục ngữ Tiếng Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận trang 10

Trang 10

pdf 10 trang viethung 9140
Bạn đang xem tài liệu "Một cách kiến giải về hình ảnh con ngựa trong thành ngữ-Tục ngữ Tiếng Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Một cách kiến giải về hình ảnh con ngựa trong thành ngữ-Tục ngữ Tiếng Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận

Một cách kiến giải về hình ảnh con ngựa trong thành ngữ-Tục ngữ Tiếng Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận
Kỷ yếu điện tử Hội thảo Quốc gia Nghiên cứu liên ngành về Ngôn ngữ và Giảng dạy 
ngôn ngữ lần thứ VI 
 687 
MỘT CÁCH KIẾN GIẢI VỀ HÌNH ẢNH CON NGỰA 
 TRONG THÀNH NGỮ-TỤC NGỮ TIẾNG VIỆT 
 DƢỚI GÓC NHÌN NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN 
Nguyễn Thị Trúc Phƣơng 
Trƣờng Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng 
Tóm tắt 
 Loài ngựa đƣợc thuần hóa và gắn bó với con ngƣời từ rất lâu. Có thể thấy những thành ngữ 
- tục ngữ có yếu tố con ngựa chiếm một vị trí khá quan trọng trong các thành ngữ - tục ngữ 
có thành tố động vật của tiếng Việt. Tiếp thu thành quả từ những công trình nghiên cứu đi 
trƣớc, bài viết đã tổng hợp các thành ngữ - tục ngữ có yếu tố con ngựa trong ―Từ điển thành 
ngữ - tục ngữ - ca dao Việt Nam‖ (Việt Chƣơng) và đƣa ra một góc nhìn về ý niệm con 
ngựa xuất hiện trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt trên cơ sở lý luận của ngôn ngữ học tri 
nhận. Ở đây, bài viết đã khai thác con ngựa xét ở góc độ là ―miền nguồn‖, trên cơ sở ―miền 
đích‖ là ý nghĩa biểu đạt của thành ngữ - tục ngữ có yếu tố con ngựa. Từ đó, đƣa ra những 
kiến giải về cơ chế lựa chọn con ngựa trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt, cũng nhƣ tìm 
hiểu về phƣơng thức tƣ duy của ngƣời Việt. 
Từ khóa 
hình ảnh con ngựa, thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt, ngôn ngữ học tri nhận, miền nguồn, 
miền đích 
 1. Mở đầu 
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nƣớc và giữ nƣớc của ông cha ta, khi nhắc đến một loài vật 
trung thành, chịu thƣơng chịu khó, hết lòng tận tụy cùng con ngƣời, ta không thể không nhắc 
đến loài ngựa. Qua thống kê và tổng hợp theo ―Từ điển thành ngữ - tục ngữ - ca dao Việt Nam‖ 
của tác giả Việt Chƣơng, ngƣời viết nhận thấy rằng những thành ngữ - tục ngữ có yếu tố con 
ngựa chiếm khoảng 36 biểu thức trong tổng số những thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt. 
 Sau khi tìm hiểu một số công trình nghiên cứu đi trƣớc, ngƣời viết nhận thấy rằng đa phần 
các công trình nghiên cứu về thành ngữ - tục ngữ có liên quan đến thành tố chỉ động vật nói 
chung và thành ngữ - tục ngữ có yếu tố con ngựa nói riêng hầu nhƣ chỉ mới dừng lại ở việc 
khảo sát và tìm hiểu về con ngựa trên phƣơng diện ngữ nghĩa biểu trƣng, chứ chƣa đi sâu 
phân tích con ngựa ở vai trò là ―miền nguồn‖, hay đƣa ra lý giải cho câu hỏi vì sao ngƣời xƣa 
đã sử dụng con ngựa cho một trƣờng hợp cần biểu đạt cụ thể nào đó mà không phải là hình 
ảnh của một loài vật hoặc sự vật nào khác. Chẳng hạn, Nguyễn Thị Bảo (2003) trong luận văn 
―Ngữ nghĩa của từ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt (so sánh với thành ngữ tiếng Anh)‖ 
đã miêu tả ngữ nghĩa văn hóa của một số từ ngữ chỉ động vật có tần suất xuất hiện cao trong 
thành ngữ tiếng Việt nhƣng cũng mới chỉ nói đến ngữ nghĩa của thành tố ngựa trong thành 
ngữ mà chƣa đi sâu nghiên cứu khai thác ý niệm con ngựa. Đỗ Thị Thu Hƣơng (2017) trong 
―Đặc trưng văn hóa – dân tộc trong thành ngữ tiếng Việt có chứa hình ảnh động vật‖ đã đƣa 
ra kết quả khảo sát về tần suất xuất hiện của con ngựa trong thành ngữ tiếng Việt cũng nhƣ 
nêu ra ý nghĩa biểu trƣng của hình ảnh một số động vật có tần suất xuất hiện cao trong thành 
ngữ tiếng Việt, nhƣng bài viết chƣa phân tích sâu hơn về đặc trƣng văn hóa – dân tộc qua hình 
Kỷ yếu điện tử Hội thảo Quốc gia Nghiên cứu liên ngành về Ngôn ngữ và Giảng dạy 
ngôn ngữ lần thứ VI 
 688 
ảnh con ngựa trong thành ngữ tiếng Việt. Riêng về mảng ngôn ngữ học tri nhận, tác giả Phan 
Phƣơng Thanh (2018) trong bài viết ―Ngựa (马) trong thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt nhìn 
từ góc độ tri nhận‖ mới chỉ dừng lại ở các nét nghĩa biểu trƣng của con ngựa trong thành ngữ 
chứ chƣa đƣa ra phân tích sâu hơn về ý niệm con ngựa của ngƣời Việt đƣợc thể hiện trong các 
thành ngữ - tục ngữ. 
 Với mong muốn có thể nghiên cứu một cách có hệ thống và sâu hơn về ý niệm con ngựa 
trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt thông qua lăng kính của ngôn ngữ học tri nhận, bài viết 
đã tiến hành tổng hợp và phân tích ý niệm con ngựa xét ở góc độ ―miền nguồn‖, trên cơ sở 
―miền đích‖ là ý nghĩa biểu đạt của thành ngữ - tục ngữ có yếu tố con ngựa. Từ đó, đƣa ra 
những kiến giải về cơ chế lựa chọn con ngựa trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt, cũng nhƣ 
tìm hiểu về phƣơng thức tƣ duy của ngƣời Việt. 
2. Cơ sở lý luận 
 Năm 1980 hai nhà nghiên cứu George Lakoff và Mark Johnson trong tác phẩm ―Chúng ta 
sống bằng ẩn dụ‖ đã khởi xƣớng nên một hƣớng nghiên cứu mới về ngữ nghĩa học mà ở đó 
―ngôn ngữ là nguồn cứ liệu quan trọng để biết đƣợc hệ thống tri nhận (ý niệm) của con ngƣời 
đƣợc sử dụng ra sao‖. Trong quá trình nghiên cứu, ngƣời viết đã căn cứ vào cơ sở lý thuyết từ 
công trình nghiên cứu của George Lakoff và Mark Johnson trong tác phẩm ―Chúng ta sống 
bằng ẩn dụ‖ (1980); Khảo luận của Trần Văn Cơ trong ―Khảo luận ẩn dụ tri nhận‖ (2009) và 
công trình nghiên cứu của tác giả Lý Toàn Thắng trong ―Ngôn ngữ học tri nhận – Từ lý thuyết 
đại cương đến thực tiễn tiếng Việt‖ (2009). 
 Nhắc đến ―ngôn ngữ học tri nhận‖, chúng ta không thể không nhắc đến khái niệm quan 
trọng là ―ẩn dụ tri nhận‖ và ―hoán dụ tri nhận‖. Lakoff và Johnson cho rằng ―hoán dụ‖ là 
trƣờng hợp sử dụng một sự vật để chỉ một sự vật khác có liên quan đến nó, nói cách khác 
hoán dụ có chức năng chủ yếu là quy chiếu, tức một thực thể này đƣợc sử dụng để quy chiếu 
một thực thể khác. Cần nhấn mạnh rằng, hoán dụ không phải là các sự kiện ngẫu nhiên và võ 
đoán mà mang tính hệ thống và biểu trƣng, cụ thể là ý niệm về ―thuộc tính nổi trội‖ của sự vật. 
Trong khi đó, Trần Văn Cơ trong ―Khảo luận ẩn dụ tri nhận‖ đã chỉ ra rằng ẩn dụ là một cơ 
chế của tri nhận mà ở đó ―ẩn dụ đƣợc xem nhƣ là cách nhìn một đối tƣợng này thông qua một 
đối tƣợng khác‖. Cũng giống nhƣ hoán dụ, ẩn dụ không mang tính võ đoán mà có cơ sở là các 
trải nghiệm và văn hóa của chúng ta. Từ những cơ sở trên, có thể nói ―ẩn dụ tri nhận‖ và 
―hoán dụ tri nhận‖ là một quá trình phóng chiếu từ ―miền nguồn‖ đến ―miền đích‖, hay nói 
cách khác là ý niệm của ―miền đích‖ đƣợc hiểu thông qua ý niệm tại ―miền nguồn‖. Trong 
phạm vi bài viết này, ngƣời vi ...  hết sức quan trọng trong những trận chiến, cho nên 
Kỷ yếu điện tử Hội thảo Quốc gia Nghiên cứu liên ngành về Ngôn ngữ và Giảng dạy 
ngôn ngữ lần thứ VI 
 692 
khi nhắc đến các đức tính nhƣ dũng cảm, can trƣờng thì ngƣời xƣa liên tƣởng ngay đến sự gắn 
bó của loài ngựa với các tƣớng lĩnh, chiến sĩ nơi trận mạc nhƣ Một mình một ngựa, Đơn 
thương độc mã. Hơn nữa, ngày xƣa, khi phƣơng tiện đi lại còn hạn chế, con ngựa trở thành 
phƣơng tiện giúp con ngƣời đi lại nhanh chóng nhất, tuy nhiên không phải tầng lớp nào cũng 
có khả năng sở hữu ngựa mà thông thƣờng chỉ tầng lớp giàu có, quý tộc hoặc các tƣớng lĩnh 
mới sử dụng ngựa, cho nên ngƣời xƣa thƣờng dùng con ngựa để nói đến sự giàu sang, thịnh 
vƣợng, may mắn nhƣ Lên xe xuống ngựa, Ngựa xe như nước, Mã đáo thành công Đồng 
thời, ngoài xu hƣớng liên tƣởng các con vật với những đặc điểm thuộc tính của chúng thì theo 
kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Tồn, ―Ngƣời Việt có xu hƣớng liên tƣởng liên 
quan đến các hoàn cảnh mà con vật xuất hiện – mối ―liên hệ bên ngoài‖. Ở đây có thể hiểu 
rằng hoàn cảnh trực quan mà con ngựa tham dự vào chính là vai trò làm phƣơng tiện chuyên 
chở đi lại cho con ngƣời. Chính vì lẽ đó, mà trong số các liên tƣởng liên quan đến loài ngựa 
thì vai trò của chúng chiếm một tỉ lệ không nhỏ. 
 Ngoài ra, có một số thành ngữ - tục ngữ có miền nguồn dựa trên các điển tích, điển cố hay 
các câu chuyện kể dân gian liên quan đến con ngựa nhƣ Da ngựa bọc thây, Ngựa quen đường 
cũ, Tái ông mất ngựa Qua tìm hiểu, ngƣời viết nhận thấy rằng đại đa phần các điển tích, 
điển cố này có nguồn gốc từ các điển tích, điển cố hoặc câu chuyện dân gian của Trung Hoa. 
Điều này đƣợc giải thích trên cơ sở do sự tiếp xúc ngôn ngữ và ảnh hƣởng văn hóa từ rất sớm 
của hai dân tộc. Trong tiếng Việt có một số lƣợng không nhỏ các từ gốc Hán, trong đó phải kể 
đến cả các thành ngữ gốc Hán. Trung Hoa vốn xuất phát từ nền văn minh du mục và nông 
nghiệp cao, những cuộc di chuyển trên thảo nguyên bao la hay trên những con đƣờng thiên lý 
thì ngƣời Trung Hoa đòi hỏi phải chủ yếu dựa vào sức ngựa, cho nên trong tiếng Hán những 
thành ngữ có yếu tố ngựa vẫn xuất hiện nhiều hơn trong tiếng Việt. Hơn nữa, ngày xƣa với lối 
truyền thống khoa cử lấy văn chƣơng làm chính, với nhu cầu tiếp thu văn hóa Hán, chủ yếu là 
Nho học thì một số lƣợng lớn các kinh sử của Trung Hoa đƣợc giới Nho sĩ, nho sinh dồi mài 
cũng nhƣ sử dụng trong dạy và học. Chữ Hán từ chỗ chỉ bó hẹp trong phạm vi sử dụng của 
tầng lớp sĩ đại phu và quan trƣờng, đã dần dần mở rộng ra dân gian. Cho nên, có lẽ các thành 
ngữ gốc Hán có yếu tố con ngựa cũng đƣợc du nhập vào Việt Nam theo con đƣờng đó. 
 Có một điểm thú vị là tuy có lối tƣ duy dựa trên sự liên tƣởng trực quan – hành động, 
nhƣng ý niệm con ngựa trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt đƣợc phóng chiếu lên miền đích 
trên cơ sở liên tƣởng tƣơng đồng về đặc điểm cấu tạo cơ thể của loài ngựa lại không chiếm số 
lƣợng lớn, chỉ khoảng 5.6%, và chủ yếu thể hiện ở các bộ phận nhƣ ruột (thẳng như ruột 
ngựa), móng ngựa (trước vành móng ngựa). Có lẽ, vì trong tƣ duy của ngƣời Việt, khi lựa 
chọn cơ sở chuyển nghĩa, đặc điểm hình dáng của loài ngựa không nổi trội hay đặc biệt hơn 
các loài vật khác, chẳng hạn không to nhƣ con voi, không quá bé nhƣ con kiếnHơn nữa, 
trên cơ sở dựa vào đặc điểm, thuộc tính nào đó của sự vật hay hiện tƣợng đang cần diễn đạt để 
đi tìm sự vật hay hiện tƣợng khác cũng có đặc điểm, thuộc tính ấy để đồng nhất hóa chúng thì 
đặc tính nhƣ ―nhanh nhẹn, trung thành, dũng cảm, sống bầy đàn‖ của loại ngựa lại nổi trội và 
đặc biệt hơn đặc điểm hình dáng của nó. 
3.3.2. Phương thức tri nhận của ý niệm con ngựa trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt 
Kỷ yếu điện tử Hội thảo Quốc gia Nghiên cứu liên ngành về Ngôn ngữ và Giảng dạy 
ngôn ngữ lần thứ VI 
 693 
 Qua quá trình nghiên cứu, ngƣời viết nhận thấy rằng ý niệm con ngựa trong thành ngữ - 
tục ngữ tiếng Việt khi đƣợc phóng chiếu từ miền nguồn đến miền đích đại đa số đều theo 
phƣơng thức ẩn dụ tri nhận. Trong đó, đặc biệt có hiện tƣợng một miền nguồn có thể phóng 
chiếu sang nhiều miền đích, cụ thể nhƣ sau: 
 Ý niệm về tập tính của loài ngựa có thể phóng chiếu sang các miền đích khác nhau nhƣ 
liên tƣởng tập quán sinh sống theo bầy đàn của loài ngựa với tinh thần đoàn kết hoặc sự kết 
hợp của các nhóm ngƣời chẳng hạn nhƣ Một con ngựa đau cả tàu chê cỏ, Ngưu tầm ngưu, mã 
tầm mã, Ngựa chạy có bầy, chim bay có bạn; liên trƣởng dựa trên đặc điểm về thời kỳ sinh 
trƣởng, cụ thể là ngựa non đƣợc ví với ngƣời còn trẻ tuổi thiếu kinh nghiệm nhƣ Ngựa non 
háu đá; liên tƣởng các đặc điểm về thuộc tính bản năng sinh vật học của loài ngựa với các ý 
niệm về bài học nhân sinh nhƣ Ngựa chạy về ngược, Ngựa le te cũng đến bến giang, voi thủng 
thỉnh cũng sang qua đò.; liên tƣởng đặc điểm về cách thức hoạt động di chuyển của loài 
ngựa với thời gian qua mau, tốc độ hay các bài học triết lý nhân sinh: Bóng câu qua cửa sổ; 
Ngựa bốn chân còn vấp; liên tƣởng liên quan đến các tập tính khi đƣợc con ngƣời nuôi 
dƣỡng, thuần dƣỡng với các thói tính không tốt của con ngƣời hay các bài học triết lý nhân 
sinh nhƣ Ngựa hỗn quen đường, Như ngựa bất kham, Ngựa chạy đường dài, Ngựa hay là 
ngựa bất kham 
 Ý niệm về vai trò của loài ngựa trong đời sống con ngƣời cũng có phạm vi phóng chiếu 
sang miền đích rất rộng, cụ thể nhƣ liên tƣởng vai trò của loài ngựa trong đời sống con ngƣời 
với sự may mắn, giàu sang, thịnh vƣợng nhƣ Lên xe xuống ngựa, Mã đáo thành công, Ngựa 
xe như nước; liên tƣởng vai trò của loài ngựa trong đời sống con ngƣời với sự thanh khiết, 
ngây thơ nhƣ Thanh mai trúc mã; liên tƣởng vai trò của loài ngựa trong đời sống con ngƣời 
với những tầng lớp có thân phận thấp kém nhƣ Thay ngựa giữa dòng, hay dùng trong lời chửi 
rủa nhƣ Ngựa xéo voi giầy; liên tƣởng vai trò của loài ngựa trong đời sống con ngƣời với thói 
tính không tốt của con ngƣời nhƣ Cưỡi ngựa xem hoa; liên tƣởng vai trò của loài ngựa 
trong đời sống con ngƣời để gởi gắm triết lý nhân sinh hay bài học về luân lý đạo đức nhƣ 
Đường dài hay sức ngựa, nước loạn biết tôi ngay, Ngựa gầy hổ mặt người nuôi; liên tƣởng 
dựa trên vai trò của loài ngựa trong chiến trận với sự dũng mãnh, can trƣờng nhƣ Đơn thương 
độc mã, Một mình một ngựa. 
 Ý niệm về đặc điểm cấu tạo cơ thể của loài ngựa chủ yếu đƣợc phóng chiếu sang miền đích 
với các ý nghĩa nhƣ thể hiện một đức tính tốt nào đó của con ngƣời nhƣ Thẳng như ruột ngựa 
hay ngụ ý nói đến các thành phần bất lƣơng trong xã hội nhƣ Trước vành móng ngựa. 
 Ý niệm liên quan đến các điển tích, điển cố, các câu chuyện kể hoặc thái độ cảm giác của 
con ngƣời đối với loài ngựa đa phần phóng chiếu sang miền đích với các ý nghĩa nhƣ tƣợng 
trƣng cho sự thanh khiết, cao quý, cùng các đức tính tốt đẹp của con ngƣời trong Ngựa Hồ 
thương gió heo may; ngụ ý nói đến những tầng lớp có thân phận thấp kém, hay những thành 
phần bất lƣơng trong Đầu trâu mặt ngựa; hay các triết lý nhân sinh, bài học đạo đức, luân lý 
nhƣ Tái ông mất ngựa. 
 Ngoài ra, có một điều thú vị rằng có hiện tƣợng đối nghịch về ý nghĩa của các miền đích 
cùng đƣợc phóng chiếu từ một miền nguồn. Điều này có lẽ có liên quan đến quan niệm hay 
Kỷ yếu điện tử Hội thảo Quốc gia Nghiên cứu liên ngành về Ngôn ngữ và Giảng dạy 
ngôn ngữ lần thứ VI 
 694 
cảm giác của ngƣời Việt đối với loài ngựa. Một mặt, loài ngựa với vai trò gần gũi gắn bó với 
con ngƣời cùng với các đức tính tốt đẹp nhƣ trung thành tận tụy, mặt khác trong quan niệm 
của ngƣời Việt ngựa đƣợc xếp chung vào hàng lục súc nên trong một vài trƣờng hợp loài 
ngựa cũng gắn với các thân phận thấp kém trong xã hội. 
3.3.3.Đặc điểm ẩn dụ tri nhận của ý niệm con ngựa trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt 
 Theo tác giả Trần Văn Cơ trong ―Khảo luận Ẩn dụ tri nhận‖ thì có thể phân ẩn dụ tri nhận 
làm bốn loại chính là ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ ―kênh liên lạc/ truyền tin‖, ẩn dụ 
định hƣớng. Trong phạm vi bài viết này, qua phân tích chúng tôi rút ra đƣợc rằng có hai loại 
ẩn dụ đƣợc sử dụng khi nói đến ý niệm con ngựa trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt là ẩn dụ 
bản thể và ẩn dụ cấu trúc, trong đó loại ẩn dụ bản thể chiếm tuyệt đại đa số, cụ thể nhƣ sau: 
 Ẩn dụ bản thể: Là hiện tƣợng ―phạm trù hóa những bản thể trừu tƣợng bằng cách vạch ranh 
giới của chúng trong không gian‖. Loại ẩn dụ này đƣợc thể hiện phong phú trong các trƣờng 
hợp nhƣ liên tƣởng thói quen tập tính, vai trò con ngựa hay con ngựa trong các điển tích, điển 
cố, câu chuyện dân gian với các đức tính tích cực nhƣ thanh khiết, cao quý, dũng mãnh can 
trƣờng, hoặc các đức tính tiêu cực của con ngƣời nhƣ qua loa đại khái hay các thành phần 
thấp kém trong xã hội 
 Ẩn dụ cấu trúc: Là hiện tƣợng ―ý niệm hóa từng miền riêng lẻ bằng cách chuyển sang 
chúng sự cấu trúc hóa một miền khác‖. Loại ẩn dụ này chủ yếu đƣợc thể hiện ở sự liên tƣởng 
các đặc điểm cấu tạo cơ thể của loài ngựa với hạng ngƣời bất lƣơng nhƣ trong Trước vành 
móng ngựa. Ở đây ―vành móng ngựa‖ đã đƣợc gán cho một ý niệm mới là biểu trƣng cho 
công lý, hay sự phán xét, cho nên những hạng ngƣời phải đứng ―Trƣớc vành móng ngựa‖ 
thƣờng là chỉ những thành phần bất lƣơng, phải đối diện với với sự phán xét của công lý. 
4. Thảo luận và Đề xuất 
 Từ kết quả thu đƣợc qua quá trình nghiên cứu ý niệm con ngựa dƣới góc nhìn ngôn ngữ 
học tri nhận, ngƣời viết đã phân tích ý niệm con ngựa xét trên góc độ ―miền nguồn‖ và đƣa ra 
những lý giải cụ thể cho cơ chế lựa chọn con ngựa trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt. Tuy 
nhiên, do xét thấy ý niệm con ngựa trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt khi đƣợc phóng chiếu 
từ miền nguồn đến miền đích đại đa số đều theo phƣơng thức ẩn dụ tri nhận, nên trong phạm 
vi nghiên cứu, bài viết chủ yếu tập trung phân tích các trƣờng hợp chuyển nghĩa theo cơ chế 
ẩn dụ, còn một vài trƣờng hợp rất ít các thành ngữ - tục ngữ có miền nguồn đƣợc phóng chiếu 
sang miền đích theo cơ chế hoán dụ nhƣ Chiêu binh mãi mã, Thiên binh vạn mã vẫn chƣa 
đƣợc đề cập đến trong bài viết. Trong quá trình nghiên cứu, chắc hẳn sẽ không tránh khỏi 
những thiếu sót, hy vọng bài viết sẽ nhận đƣợc thêm các góp ý thảo luận và bổ sung từ các 
chuyên gia và các công trình nghiên cứu khác. 
 Ngƣời viết hy vọng rằng kết quả nghiên cứu từ bài viết có thể góp phần làm cơ sở cho các 
nghiên cứu sâu hơn nữa về ý niệm con ngựa ở các phƣơng diện khác. Ngoài ra, trong quá 
trình giảng dạy các thành ngữ - tục ngữ có liên quan đến con ngựa, nếu có thể giới thiệu cho 
ngƣời học hiểu rõ về lý do tại sao ngƣời xƣa lại lựa chọn con ngựa trong các trƣờng hợp này 
có thể giúp cho việc dạy và học thành ngữ - tục ngữ đƣợc sinh động và sâu sắc hơn. 
Kỷ yếu điện tử Hội thảo Quốc gia Nghiên cứu liên ngành về Ngôn ngữ và Giảng dạy 
ngôn ngữ lần thứ VI 
 695 
5. Kết luận 
 Trên cơ sở lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận, bài viết đã từng bƣớc giải quyết các vấn đề 
liên quan đến ý niệm con ngựa nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận. Cụ thể, ý niệm con ngựa 
xét trên góc độ ―miền nguồn‖ chủ yếu thể hiện ở đặc điểm tập tính; vai trò của con ngựa trong 
đời sống, trong chiến trận; đặc điểm cấu tạo cơ thể; các điển tích, điển cố hay các câu chuyện 
dân gian có liên quan đến loài ngựa. Trong đó, có hiện tƣợng một miền nguồn có thể phóng 
chiếu sang nhiều miền đích. Qua phân tích, bài viết còn chỉ ra rằng có hai loại ẩn dụ đƣợc sử 
dụng khi nói đến ý niệm con ngựa trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Việt là ẩn dụ bản thể và ẩn 
dụ cấu trúc, trong đó loại ẩn dụ bản thể chiếm tuyệt đại đa số. Đặc biệt, có thể thấy rằng kết 
quả nghiên cứu về cơ chế lựa chọn miền nguồn trong bài viết hoàn toàn phù hợp và củng cố 
cho quan điểm tƣ duy ngôn ngữ của ngƣời Việt mang tính cụ thể, thiên về kiểu tƣ duy liên 
hợp, cảm giác, hành động – trực quan. 
Tài liệu tham khảo 
Lakoff G. và Johnson M., Nguyễn Thị Kiều Thu dịch (2017). Chúng ta sống bằng ẩn dụ.. 
Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh. 
Hoàng Phê (chủ biên) (2020). Từ điển tiếng Việt (Có chú thích chữ Hán cho từ ngữ Hán – 
Việt). Nhà xuất bản Đà Nẵng. 
Lê Đình Khẩn (2002). Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt. Nhà xuất bản Đà Nẵng. 
Lý Toàn Thắng (2009). Ngôn ngữ học tri nhận – Từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng 
Việt. TP.Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Phƣơng Đông. 
Nguyễn Đức Tồn (2008). Đặc trưng Văn hóa - Dân tộc của Ngôn ngữ và Tư duy. Hà Nội: 
Nhà xuất bản Khoa học xã hội. 
Ngựa trong chiến tranh ở Đông Nam Á. https://vi.wikipedia.org (Ngày truy cập: 30/08/2020) 
Trần Văn Cơ (2009). Khảo luận Ẩn dụ tri nhận. Hà Nội: Nhà xuất bản Lao động - xã hội. 
Việt Chƣơng (2004). Từ điển thành ngữ - tục ngữ - ca dao Việt Nam – Quyển Thượng. Nhà 
xuất bản Đồng Nai. 
Việt Chƣơng (2004). Từ điển thành ngữ - tục ngữ - ca dao Việt Nam – Quyển Hạ. Nhà xuất 
bản Đồng Nai. 
Viện ngôn ngữ học (1998). Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt. Nhà xuất bản Giáo dục. 
THE IMAGE OF HORSES IN VIETNAMESE IDIOMS AND PROVERBS 
FROM THE ANGLE OF COGNITIVE LINGUISTICS 
Abstract 
Horses have long closely connected with human beings. This is the reason why the images 
of horses have been employed in Vietnamese animal idioms and proverbs. From the light of 
the previous studies, the research has synthesized idioms with the horse element in "Từ 
điển thành ngữ - tục ngữ - ca dao Việt Nam" (Việt Chƣơng) and gave a new perspective on 
the concept of the horse appearing in Vietnamese idioms - proverbs from the angle of 
cognitive linguistics. The research aims to analyze the horse in source domain and the 
Kỷ yếu điện tử Hội thảo Quốc gia Nghiên cứu liên ngành về Ngôn ngữ và Giảng dạy 
ngôn ngữ lần thứ VI 
 696 
expressive meaning of idioms - proverbs with the horse element in target domain, giving 
ground to further explanations regarding to the way cultural factors and cognition 
influences languages of Vietnamese people. 
Keywords 
horse image, Vietnamese idioms - proverbs, cognitive linguistics, source domain, target 
domain 

File đính kèm:

  • pdfmot_cach_kien_giai_ve_hinh_anh_con_ngua_trong_thanh_ngu_tuc.pdf