Giáo trình Thống kê doanh nghiệp

Quản trị học là môn học cơ sở cho khối ngành kinh tế, trang bị những kiến thức cơ bản về quản trị học làm cơ sở cho việc học tập các học phần chuyên sâu về quản trị chuyên ngành.

Nhằm đáp ứng mục tiêu trang bị cho học viên kiến thức cơ bản về quản trị học và kỹ năng vận dụng được các quy luật, các nguyên tắc trong công tác quản trị ở các tổ chức, đồng thời đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh, sinh viên, Khoa Kinh tế trường Cao đẳng Cơ giới Ninh Bình biên soạn Giáo trình Quản trị học.

Cuốn sách gồm 6 chương:

Chương 1: Tổng quan về quản trị học

Chương 2: Thông tin và quyết định quản trị

Chương 3: Chức năng hoạch định

Chương 4: Chức năng tổ chức

Chương 5: Chức năng lãnh đạo

Chương 6: Chức năng kiểm tra

 

Giáo trình Thống kê doanh nghiệp trang 1

Trang 1

Giáo trình Thống kê doanh nghiệp trang 2

Trang 2

Giáo trình Thống kê doanh nghiệp trang 3

Trang 3

Giáo trình Thống kê doanh nghiệp trang 4

Trang 4

Giáo trình Thống kê doanh nghiệp trang 5

Trang 5

Giáo trình Thống kê doanh nghiệp trang 6

Trang 6

Giáo trình Thống kê doanh nghiệp trang 7

Trang 7

Giáo trình Thống kê doanh nghiệp trang 8

Trang 8

Giáo trình Thống kê doanh nghiệp trang 9

Trang 9

Giáo trình Thống kê doanh nghiệp trang 10

Trang 10

Tải về để xem bản đầy đủ

docx 69 trang minhkhanh 23/12/2021 6481
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Thống kê doanh nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Giáo trình Thống kê doanh nghiệp

Giáo trình Thống kê doanh nghiệp
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ GIỚI NINH BÌNH
GIÁO TRÌNH
MÔN HỌC: THỐNG KÊ DOANH NGHIỆP
NGHỀ: KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG
Ban hành kèm theo Quyết định số: /QĐ-TCGNB ngày.tháng.năm 20
 của Trường Cao đẳng Cơ giới Ninh Bình
Ninh Bình, năm 2018
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo.
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.
LỜI NÓI ĐẦU
Quản trị học là môn học cơ sở cho khối ngành kinh tế, trang bị những kiến thức cơ bản về quản trị học làm cơ sở cho việc học tập các học phần chuyên sâu về quản trị chuyên ngành.
Nhằm đáp ứng mục tiêu trang bị cho học viên kiến thức cơ bản về quản trị học và kỹ năng vận dụng được các quy luật, các nguyên tắc trong công tác quản trị ở các tổ chức, đồng thời đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh, sinh viên, Khoa Kinh tế trường Cao đẳng Cơ giới Ninh Bình biên soạn Giáo trình Quản trị học.
Cuốn sách gồm 6 chương:
Chương 1:	Tổng quan về quản trị học
Chương 2:	Thông tin và quyết định quản trị
Chương 3:	Chức năng hoạch định
Chương 4:	Chức năng tổ chức
Chương 5:	Chức năng lãnh đạo
Chương 6:	Chức năng kiểm tra
Nội dung biên soạn theo hình thức tích hợp giữa lý thuyết và thực hành. Trong quá trình biên soạn, nhóm tác giả đã tham khảo nhiều tài liệu liên quan của các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp và cập nhật những kiến thức mới nhất.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng không tránh khỏi những thiếu sót. Nhóm tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn học sinh cùng đông đảo bạn đọc để giáo trình ngày càng hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
	Tập thể tác giả
	Phạm Thị Hồng
	Phạm Thị Thu Hiền
	Đinh Thị Như Quỳnh
MỤC LỤC
CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC
Tên môn học: Quản trị học
Mã số môn học: MH 32
Thời gian thực hiện môn học: 45 giờ; ( Lý thuyết: 25 giờ; Thực hành, thảo luận, bài tập: 18 giờ; Kiểm tra: 2 giờ)
I. Vị trí, tính chất môn học: 
- Vị trí: Môn học được bố trí giảng dạy sau khi học xong các môn học cơ sở;
- Tính chất: Là môn chuyên môn nghề.
II. Mục tiêu môn học:
- Về kiến thức:
+ Trình bày được khái niệm, bản chất, vai trò và chức năng của quản trị;
+ Trình bày được hệ thống thông tin trong quản trị.
- Về kỹ năng:
+ Phân tích các vấn đề kinh tế cơ bản trong và ngoài doanh nghiệp;
+ Lập chiến lược phát triển doanh nghiệp trung và dài hạn;
+ Lập kế hoạch tác nghiệp cho từng giai đoạn, từng lĩnh vực, từng công việc cụ thể của quá trình sản xuất kinh doanh;
+ Tổ chức cơ cấu bộ máy doanh nghiệp gọn nhẹ, linh hoạt, hiệu quả;
+ Lãnh đạo cơ cấu bộ máy doanh nghiệp hoạt động nhịp nhàng, có hiệu quả;
+ Kiểm tra được mọi hoạt động ở các lĩnh vực trong doanh nghiệp.
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Chủ động tích cực trong việc học tập, nghiên cứu môn học, tiếp cận và thảo luận để giải quyết các tình huống quản trị cụ thể trong lúc thực hành.
III. Nội dung môn học
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ HỌC
Mã chương: QTH01
Giới thiệu:
Trang bị cho người học những kiến thức chung về vai trò, chức năng, bản chất của quản trị và sự phát triển của lý thuyết quản trị. Từ đó giải quyết một số tình huống quản trị cụ thể.
Mục tiêu:
- Trình bày được các quan niệm về quản trị, bản chất của quản trị; 
- Trình bày được vai trò và chức năng của quản trị;
- Trình bày được ảnh hưởng của văn hóa, môi trường tổ chức đến quản trị tổ chức;
- Thực hiện các bài tập tình huống trong quản trị;
- Tích cực chủ động, sáng tạo trong học tập.
Nội dung chính:
1. Khái niệm, bản chất của quản trị, nhà quản trị
1.1. Khái niệm về quản trị
Về nội dung, thuật ngữ “quản trị” là một phạm trù khó định nghĩa. Mỗi tác giả khi đề cập đến quản trị đều có một định nghĩa cho riêng mình. Từ quản trị - Management được dịch từ tiếng Anh, do đó có nơi, có lúc có người gọi là quản lý, có người gọi là quản trị. Mặc dù vậy, thuật ngữ quản lý và quản trị hiện vẫn được dùng trong những hoàn cảnh khác nhau để nói lên những nội dung khác nhau. Nhìn chung, về cơ bản hai từ này đều chỉ một nội dung giống nhau.
Quản trị (Management) là từ thường được dùng phổ biến trong nhiều sách giáo khoa và nhiều tài liệu khác. Nếu xét riêng từng từ một thì ta có thể tạm giải thích như sau:
- Quản: là đưa đối tượng vào khuôn mẫu quy định sẵn. Đó là khuôn mẫu chúng ta phải thực hiện chứ không để đối tượng tự do hoạt động một cách tùy thích.
- Trị: là dùng quyền lực buộc đối tượng phải làm theo khuôn mẫu đã định. Nếu đối tượng không thực hiện đóng thì sẽ áp dụng một hình phạt nào đó đủ mạnh, đủ sức thuyết phục để buộc đối tượng phải thi hành.
Sau đây là những khái niệm về Quản trị của một số tác giả là Giáo sư, Tiến sĩ quản trị học trong và ngoài nước.
- Theo H.Koontz và O’Donenell trong giáo trình Những vấn đề cốt yếu của quản lý định nghĩa: Có lẽ không có lĩnh vực hoạt động nào của con người quan trọng hơn là công việc quản lý, bởi vì mọi nhà quản trị ở mọi cấp độ và trong mọi cơ sở đều có một nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định.
- Theo James H.Donnelly, R.James L.Gibson và John M.Ivancevich trong giáo trình Quản trị học căn bản lại cho rằng, quản trị là một quá trình do một hay nhiều người thực hiện, nhằm phối hợp các hoạt động của những người khác để đạt được những kết quả mà một người hành động riêng rẽ không làm được.
- Stoner và Robbins lại cho rằng: Quản trị là một tiến trình bao gồm việc hoạch định, tổ chức, quản trị con người và kiểm tra các hoạt động trong một đơn vị, một cách có hệ thống, nhằm hoàn thành mục tiêu của đơn vị đó.
- Lý thuyết hành vi lại định nghĩa: Quản trị là hoàn thành công việc thông qua con người.
- Theo Thầy Nguyễn Tiến Phước: Quản trị là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát công việc và những nỗ lực của con người, đồng  ... h trị, phương pháp kinh tế tạo ra động lực vật chất, phương pháp giáo dục tạo ra động lực tinh thần.
Đồng thời sử dụng kết hợp các phương pháp sẽ khắc phục cho nhau những nhược điểm trong mỗi loại phương pháp. Nếu chỉ dùng phương pháp hành chính sẽ gây ức chế, căng thẳng; hoặc quá nhấn mạnh khuyến khích bằng lợi ích vật chất thì dễ sinh ra tư tưởng thực dụng; hay chỉ coi trọng giáo dục cũngg sẽ nhàm chán.
3.2. Các phong cách lãnh đạo
3.2.1. Phong cách lãnh đạo chuyên quyền
Người lãnh đạo chuyên quyền là người thích ra lệnh và chờ đợi sự phục tùng, là người quyết đoán, ít có lòng tin vào cấp dưới. Họ thúc đẩy nhân viên chủ yếu bằng đe dọa và trừng phạt.
3.2.2. Phong cách lãnh đạo dân chủ
Người lãnh đạo theo phong cách dân chủ thường tham khảo ý kiến của cấp dưới về các hành động và quyết định được đề xuất và khuyến khích sự tham gia của họ. Kiểu người lãnh đạo này bao gồm những nhà lãnh đạo không hành động nếu không có sự đồng tình của cấp dưới và những nhà lãnh đạo tự quyết định nhưng có tham khảo ý kiến của cấp dưới trước khi hành động. Người lãnh đạo dân chủ luôn có lòng tin và hy vọng vào cấp dưới.
3.2.3. Phong cách lãnh đạo tự do
Người lãnh đạo theo phong cách tự do rất ít sử dụng quyền lực của họ và dành cho cấp dưới mức độ tự do cao. Họ xem vai trò của họ chỉ là người giúp đỡ các hoạt động của thuộc cấp bằng cách cung cấp thông tin và hành động như một đầu mối liên hệ với môi trường bên ngoài.
Việc sử dụng phong cách nào đó phụ thuộc vào những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Một nhà quản trị có thể rất chuyên quyền trong trường hợp khẩn cấp. Ví dụ, người đội trưởng đội cứu hỏa không thể tổ chức một cuộc hội thảo dân chủ với các đội viên để bàn cách tốt nhất dập tắt một đám cháy đang xảy ra mà phải nhanh chóng đưa ra những mệnh lệnh mà ông ta cho là tốt nhất.
CHƯƠNG 6: CHỨC NĂNG KIỂM TRA
Mã chương: QTH06
Giới thiệu:
Trang bị cho người học những kiến thức chung về khái niệm, mục đích, vai trò, nguyên tắc và tiến trình kiểm tra. Từ đó giải quyết một số tình huống quản trị cụ thể.
Mục tiêu:
- Trình bày được khái niệm, mục đích và vai trò của công tác kiểm tra;
- Trình bày được các nguyên tắc cần được áp dụng trong kiểm tra;
- Trình bày được tiến trình kiểm tra;
- Thực hiện các bài tập tình huống trong quản trị;
- Tích cực chủ động, sáng tạo trong học tập.
Nội dung chính:
1. Khái niệm và nguyên tắc kiểm tra
1.1. Khái niệm
Kiểm tra là chức năng quan trọng của nhà quản trị. Tính chất quan trọng của kiểm tra được thể hiện ở cả hai mặt. Một mặt, kiểm tra là công cụ quan trọng để nhà quản trị phát hiện ra những sai sót và có biện pháp điều chỉnh. Mặt khác, thông qua kiểm tra, các hoạt động sẽ được thực hiện tốt hơn và giảm bớt được sai sót có thể nảy sinh. Thông thường, người ta chỉ nhấn mạnh ý nghĩa thứ nhất (phát hiện sai sót) của kiểm tra vì cho rằng mọi hoạt động đều không tránh khỏi sai sót và kiểm tra là bước cuối cùng để hạn chế tình trạng này. Điều đó đóng, nhưng chưa đủ, vì trong thực tế, kiểm tra có tác động rất mạnh đến các hoạt động. Một công việc, nếu không có kiểm tra chắc chắn sẽ nảy sinh nhiều sai sót hơn nếu nó được theo dõi, giám sát thường xuyên. Điều đó khẳng định, kiểm tra không chỉ là giai đoạn cuối cùng trong quá trình hoạt động của hệ thống hoặc là khâu sau cùng của chu trình quản trị. Kiểm tra cũngg không phải là hoạt động đan xen mà là một quá trình liên tục về thời gian và bao quát về không gian. Nó là yếu tố thường trực của nhà quản trị ở mọi nơi, mọi lúc.
Từ nhận định trên, có thể khái quát rằng: Kiểm tra là quá trình xem xét các hoạt động nhằm mục đích làm cho các hoạt động đạt kết quả tốt hơn, đồng thời kiểm tra giúp phát hiện ra những sai sót, lệch lạc để có biện pháp khắc phục, đảm bảo cho hoạt động thực hiện đóng hướng.
1.2. Nguyên tắc kiểm tra
1.2.1. Kiểm tra phải theo kế hoạch
Cơ sở để tiến hành kiểm tra thường là dựa vào kế hoạch. Do vậy, nó phải được thiết kế theo kế hoạch hoạt động tổ chức. Mặt khác, kiểm tra cũng cần được thiết kế căn cứ theo cấp bậc của đối tượng được kiểm tra.
Ví dụ như công tác kiểm tra các hoạt động và nội dung hoạt động của phó giám đốc tài chính sẽ khác với công tác kiểm tra thành quả của một cửa hàng trưởng. Sự kiểm tra hoạt động bán hàng cũng sẽ khác với sự kiểm tra bộ phận tài chính. Một doanh nghiệp nhỏ đòi hỏi cách thức kiểm tra khác với sự kiểm tra các xí nghiệp lớn.
1.2.2. Kiểm tra phải đồng bộ
Muốn cho việc kiểm tra đem lại hiệu quả thiết thực thì cần tiến hành đồng bộ ở nhiều khâu, kết hợp nhiều phương pháp với nhau.
1.2.3. Kiểm tra phải công khai, khách quan, chính xác
Quá trình quản trị dĩ nhiên là bao gồm nhiều yếu tố chủ quan của nhà quản trị, nhưng việc xem xét các bộ phận cấp dưới có đang làm tốt công việc hay không, thì không phải là sự phán đoán chủ quan.
Nếu như thực hiện kiểm tra với những định kiến có sẵn sẽ không cho chúng ta được những nhận xét và đánh giá đóng mức về đối tượng được kiểm tra, kết quả kiểm tra sẽ bị sai lệch và sẽ làm cho tổ chức gặp phải những tổn thất lớn.
Vì vậy, kiểm tra cần phải được thực hiện với thái độ khách quan trong quá trình thực hiện nó. Đây là một yêu cầu rất cần thiết để đảm bảo kết quả và các kết luận kiểm tra được chính xác.
1.2.4. Kiểm tra phải phù hợp với tổ chức
Để cho việc kiểm tra có hiệu quả cao cần xây dựng một qui trình và các nguyên tắc kiểm tra phù hợp với nột văn húa của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp phong cách lãnh đạo dân chủ, nhân viên được độc lập trong công việc, được phát huy sự sáng tạo của mình thì việc kiểm tra không nên thiết lập một cách trực tiếp và quá chặt chẽ. Ngược lại, nếu các nhân viên cấp dưới quen làm việc với các nhà quản trị có phong cách độc đoán, thường xuyên chỉ đạo chặt chẽ, chi tiết và nhân viên cấp dưới có tính ỷ lại, không có khả năng linh hoạt thì không thể áp dụng cách kiểm tra, trong đó nhấn mạnh đến sự tự giác hay tự điều chỉnh của mỗi người.
1.2.5. Kiểm tra phải linh hoạt, đa dạng
Các phương pháp kiểm tra, hình thức kiểm tra phải được áp dụng linh hoạt, uyển chuyển, phù hợp với từng đối tượng, quy mô, mục đích của kiểm tra
1.2.6. Kiểm tra phải hiệu quả và tiết kiệm
Các kỹ thuật và cách tiếp cận kiểm tra được coi là có hiệu quả khi chúng có khả năng làm sáng tỏ nguyên nhân và điều chỉnh những sai lệch tiềm tàng và thực tế so với kế hoạch với mức chi phí nhỏ nhất. Yêu cầu này đòi hỏi lợi ích của kiểm tra phải tương xứng với chi phí cho nó. Mặc dù yêu cầu này là đơn giản nhưng khó trong thực hành. Thông thường các nhà quản trị phải bỏ ra nhiều chi phí tốn kém cho công tác kiểm tra nhưng kết quả thu được do kiểm tra lại không tương xứng.
2. Tiến trình kiểm tra
2.1. Xác định các tiêu chuẩn
2.1.1. Khái niệm
Tiêu chuẩn kiểm tra là những chuẩn mực mà các cá nhân, tập thể và doanh nghiệp phải thực hiện để đảm bảo cho toàn bộ doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả.
Các tiêu chuẩn của kiểm tra rất phong phú do tính chất đặc thù của doanh nghiệp, các bộ phận và con người, do sự đa dạng các sản phẩm và dịch vụ tạo ra và do có vô vàn các kế hoạch, chương trình được xây dựng.
Vì kiểm tra là phương thức để thực hiện kế hoạch, mỗi chiến lược kế hoạch, chương trình và ngân sách, mỗi chính sách, quy tắc và thủ tục đều là tiêu chuẩn đối với việc thực hiện. Tuy nhiên do các kế hoạch có thể rất khác nhau, do tình hình phức tạp của các hoạt động thực hiện kế hoạch và do các nhà quản trị thường không thể quan sát được mọi thứ, có những tiêu chuẩn đặc biệt sẽ được xây dựng tại những khu vực hoạt động thiết yếu và những điểm kiểm tra thiết yếu.
2.1.2. Các dạng tiêu chuẩn kiểm tra
Có những dạng tiêu chuẩn cơ bản sau:
- Các mục tiêu của doanh nghiệp, lĩnh vực bộ phận và con người. Mục tiêu là những tiêu chuẩn kiểm tra tốt nhất vì đó là thước đo sự thành công của các kế hoạch, là căn cứ đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp và mức độ hoàn thành nghĩa vụ được giao của các tập thể và cá nhân. Các mục tiêu thường được phát biểu cả dưới dạng định tính và định lượng. Tuy nhiên, các mục tiêu kế hoạch cần được xác định một cách định lượng bằng những chỉ tiêu cụ thể. Mục tiêu định tính như “Giảm chi phí sản xuất đến mức thấp nhất” không có ý nghĩa bằng mục tiêu đã được định lượng như “Giảm chi phí sản xuất 3%”, trong việc giúp các nhà quản trị xác định phương thức thực hiện mục tiêu và đánh giá kết quả thực hiện.
- Các tiêu chuẩn thực hiện chương trình: là cơ sở để đánh giá việc thực hiện các chương trình mục tiêu như chương trình phát triển sản phẩm mới, chương trình cải tiến chất lượng sản phẩm, chương trình thay đổi nhãn hiệu. Ngoài mục tiêu, người ta có thể dùng chỉ tiêu thời hạn và chi phí các nguồn lực để thực hiện theo thời gian.
- Các chỉ tiêu chất lượng đối với sản phẩm và dịch cụ như độ cứng của vòng bi, sức chịu lực, tính bền vững của công trình xây dựng...
- Các tiêu chuẩn về vốn: là cơ sở đo lường sự thực hiện vốn đầu tư trong các doanh nghiệp như khoản thu hồi trên vốn đầu tư, tỷ lệ giữa các khoản nợ hiện có với tài sản hiện có, giữa các khoản đầu tư cố định và tổng đầu tư...
Khi xây dựng các tiêu chuẩn kiểm tra cần chú ý một số yêu cầu:
Thứ nhất, cần cố gắng lượng hóa các tiêu chuẩn kiểm tra mặc dù vẫn còn tồn tại nhiều tiêu chuẩn định tính trong kinh doanh do đặc điểm của các mối quan hệ giữa con người với nhau.
Thứ hai, số lượng các tiêu chuẩn kiểm tra cần được hạn chế ở mức tối thiểu do có sự tham gia rộng rãi của những người thực hiện trong quá trình xây dựng các tiêu chuẩn kiểm tra cho hoạt động của chính họ.
Các tiêu chuẩn cần phải linh hoạt, phù hợp với đặc điểm của từng doanh nghiệp, từng bộ phận, từng con người trong doanh nghiệp.
2.2. Đo lường thành quả
2.2.1. Đo lường sự thực hiện
Việc đo lường được tiến hành tại các khu vực hoạt động thiết yếu và các điểm kiểm tra thiết yếu trên cơ sở nội dung đã được xác định.
Để dự báo được những sai lệch trước khi chúng trở nên trầm trọng, ngoài kết quả cuối cùng của hoạt động, việc đo lường nhiều khi phải được thực hiện đối với đầu vào của hoạt động, những dấu hiệu và sự thay đổi có thể ảnh hưởng đến kết quả của từng giai đoạn hoạt động nhằm tác động điều chỉnh kịp thời.
Để rút ra được những kết luận đúng đắn về hoạt động và kết quả thực hiện cũng như nguyên nhân của những sai lệch, việc đo lường được lặp đi lặp lại bằng những công cụ hợp lý. Tần số của sự đo lường phụ thuộc vào dạng hoạt động bị kiểm tra. Ví dụ, trong nhà máy công nghiệp mức độ xả khói ra không khí được giám sát liên tục, nhưng sự tiến bộ trong việc thực hiện mục tiêu mở rộng sản xuất được các nhà quản trị cấp cao xem xét một hoặc hai lần trong năm. Tương tự, người chủ của một cửa hàng cần thường xuyên giám sát thái độ phục vụ của nhân viên bán hàng nhưng chỉ xem xét tình hình cân đối tài sản một tháng hoặc một quý một lần.
2.2.2. Đánh giá sự thực hiện
Đánh giá là sự xem xét sự phù hợp giữa kết quả đo lường so với tiêu chuẩn. Nếu sự thực hiện phù hợp với các tiêu chuẩn, nhà quản trị có thể kết luận mọi việc vẫn diễn ra theo đúng kế hoạch và không cần sự điều chỉnh. Ngược lại, nếu kết quả thực hiện không phù hợp với tiêu chuẩn thì cần điều chỉnh. Khi đó, người ta tiến hành phân tích nguyên nhân của sự sai lệch và những hậu quả của nó đối với hoạt động của doanh nghiệp để đi tới kết luận có cần tiến hành điều chỉnh hay không và nếu cần thì xây dựng được một chương trình điều chỉnh có hiệu quả.
Nếu các tiêu chuẩn được vạch ra một cách thích hợp và nếu các phương tiện đo lường có khả năng xác định một cách chính xác kết quả hoạt động thì việc đánh giá sự thực hiện thực tế hoặc tương lai là công việc tương đối dễ dàng. Tuy nhiên, có nhiều hoạt động khó xác định được tiêu chuẩn chính xác và cũng khó đo lường, dự báo sự thực hiện.
2.3. Điều chỉnh các sai lệch
Điều chỉnh là những tác động bổ sung trong quá trình quản trị để khắc phục những sai lệch giữa việc thực hiện hoạt động trên thực tế so với mục tiêu, kế hoạch đã đề ra nhằm không ngừng cải tiến chất lượng hoạt động.
Thông qua việc đo lường và đánh giá kết quả ở bước trên, chúng ta sẽ xác định được cần phải áp dụng những biện pháp gì, ở đâu, làm như thế nào để đảm bảo cho việc thực hiện các hoạt động ngày càng đem lại kết quả cao hơn.
Việc điều chỉnh các sai lệch trong thực tế có thể tiến hành theo các hướng: Điều chỉnh kế hoạch, thay đổi mục tiêu, sửa đổi công tác tổ chức, tăng cường nhân viên, lựa chọn bố trí lại nhân sự, tăng cường huấn luyện, bồi dưỡng nhân viên, đình chỉ, cách chức...
Điều chỉnh là cần thiết nhưng cần phải đảm bảo các yêu cầu:
- Chỉ điều chỉnh khi thực sự cần
- Điều chỉnh đúng mức độ, tránh gây tác dụng xấu
- Phải tính tới hậu quả sau khi điều chỉnh
- Tránh để lỡ thời cơ, tránh bảo thủ
- Tuỳ điều kiện mà sử dụng phương pháp điều chỉnh cho hợp lý
Xét tổng quát hơn, kiểm tra không đơn thuần chỉ là việc kiểm chứng kết quả sau khi đã thực hiện; mà là quá trình chủ động kiểm tra từ trước khi thực hiện (kiểm tra đầu vào), kiểm tra trong khi đang thực hiện (kiểm tra hiện hành) và kiểm tra sau khi thực hiện (kiểm tra đầu ra, kiểm tra kết quả). Kiểm tra trước khi thực hiện nhằm tránh sai lầm ngay từ đầu, dựa vào các thông tin mới nhất về các yếu tố của môi trường kinh doanh (bên ngoài và bên trong doanh nghiệp) để đối chiếu với kế hoạch đã lập; qua đó kịp thời điều chỉnh cho phù hợp. Kiểm tra trong khi thực hiện nhằm tháo gỡ những trở ngại, vướng mắc nảy sinh, qua theo dõi trực tiếp những diễn biến trong quá trình thực hiện.
3. Các hình thức kiểm tra
3.1. Kiểm tra lường trước
Hình thức kiểm tra này dùng để đảm bảo nguồn lực cần thiết cho một hoạt động nào đó đã được ghi vào ngân sách và được chuẩn bị đầy đủ cả về số lượng, chủng loại, chất lượng.
3.2. Kiểm tra trong khi thực hiện
Là theo dõi các hoạt động đang diễn ra để đảm bảo chắc chắn rằng mọi cái đều hướng đến các mục tiêu. Những tiêu chuẩn chỉ đạo hoạt động đang diễn ra được rút ra từ những phần mô tả công việc và từ những chính sách được hình thành từ chức năng lập kế hoạch. Việc kiểm tra trong khi hoạt động được thực hiện chủ yếu bằng những hoạt động giám sát của những nhà quản trị.
3.3. Kiểm tra sau khi thực hiện
Là hình thức kiểm tra, đo lường kết quả cuối cùng của hoạt động.

File đính kèm:

  • docxgiao_trinh_thong_ke_doanh_nghiep.docx