Hiện trạng thảm thực vật ngập mặn xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh

Các phương pháp điều tra thực địa, phân tích ảnh vệ tinh, thiết bị bay không người lái đã

được sử dụng để nghiên cứu, đánh giá hiện trạng thảm thực vật rừng ngập mặn xã Đồng Rui,

huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh và xây dựng bản đồ phân bố các kiểu quần xã thực vật rừng

ngập mặn. Tổng số 144 loài thực vật thuộc 115 chi, 53 họ và hai ngành thực vật có mạch, gồm

Dương xỉ (Pteridophyta) và Ngọc lan (Magnoliophyta) đã được ghi nhận ở rừng ngập mặn xã

Đồng Rui, trong đó có 16 loài thuộc nhóm cây ngập mặn thực sự. Các loài Trang (Kandelia

obovata), Đâng (Rhizophora. stylosa), Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza), các loài Mắm (Avicennia

spp.) Sú (Aegiceras corniculatum) là nhóm loài ưu thế. Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận một loài

sẽ nguy cấp và nguy cấp được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) là Cỏ ngạn (Scirpus

kimsonensis), 87,5% (126 loài) tổng số loài có công dụng, chủ yếu được sử dụng làm dược liệu và

làm thức ăn. Đã xác định và xây dựng bản đồ phân bố của 14 quần xã thực vật thuộc rừng ngập

mặn xã Đồng Rui.

Hiện trạng thảm thực vật ngập mặn xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh trang 1

Trang 1

Hiện trạng thảm thực vật ngập mặn xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh trang 2

Trang 2

Hiện trạng thảm thực vật ngập mặn xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh trang 3

Trang 3

Hiện trạng thảm thực vật ngập mặn xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh trang 4

Trang 4

Hiện trạng thảm thực vật ngập mặn xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh trang 5

Trang 5

Hiện trạng thảm thực vật ngập mặn xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh trang 6

Trang 6

Hiện trạng thảm thực vật ngập mặn xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh trang 7

Trang 7

Hiện trạng thảm thực vật ngập mặn xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh trang 8

Trang 8

Hiện trạng thảm thực vật ngập mặn xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh trang 9

Trang 9

Hiện trạng thảm thực vật ngập mặn xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh trang 10

Trang 10

Tải về để xem bản đầy đủ

pdf 11 trang viethung 29/12/2021 140
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Hiện trạng thảm thực vật ngập mặn xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiện trạng thảm thực vật ngập mặn xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh

Hiện trạng thảm thực vật ngập mặn xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh
Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 120-130 
 120 
Hiện trạng thảm thực vật ngập mặn xã Đồng Rui, 
huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh 
Nguyễn Hoàng Hanh1,*, Mai Sỹ Tuấn2 
1
Viện Sinh thái và Bảo vệ Công trình, 267 Chùa Bộc, Đống Đa, Hà Nội, Việt Nam 
2
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 136 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam 
Nhận ngày 20 tháng 8 năm 2018 
Chỉnh sửa ngày 07 tháng 9 năm 2018; Chấp nhận đăng ngày 10 tháng 9 năm 2018 
Tóm tắt: Các phương pháp điều tra thực địa, phân tích ảnh vệ tinh, thiết bị bay không người lái đã 
được sử dụng để nghiên cứu, đánh giá hiện trạng thảm thực vật rừng ngập mặn xã Đồng Rui, 
huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh và xây dựng bản đồ phân bố các kiểu quần xã thực vật rừng 
ngập mặn. Tổng số 144 loài thực vật thuộc 115 chi, 53 họ và hai ngành thực vật có mạch, gồm 
Dương xỉ (Pteridophyta) và Ngọc lan (Magnoliophyta) đã được ghi nhận ở rừng ngập mặn xã 
Đồng Rui, trong đó có 16 loài thuộc nhóm cây ngập mặn thực sự. Các loài Trang (Kandelia 
obovata), Đâng (Rhizophora. stylosa), Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza), các loài Mắm (Avicennia 
spp.) Sú (Aegiceras corniculatum) là nhóm loài ưu thế. Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận một loài 
sẽ nguy cấp và nguy cấp được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) là Cỏ ngạn (Scirpus 
kimsonensis), 87,5% (126 loài) tổng số loài có công dụng, chủ yếu được sử dụng làm dược liệu và 
làm thức ăn. Đã xác định và xây dựng bản đồ phân bố của 14 quần xã thực vật thuộc rừng ngập 
mặn xã Đồng Rui. 
Từ khóa: Rừng ngập mặn, Đồng Rui, quần xã thực vật. 
1. Đặt vấn đề 
Rừng ngập mặn (RNM) xã Đồng Rui là hệ 
sinh thái tiêu biểu cho tiểu khu 1 (Khu vực từ 
Móng Cái đến Cửa Ông) thuộc khu vực I - ven 
biển Đông Bắc từ Mũi Ngọc đến mũi Đồ Sơn 
theo cách phân chia của Phan Nguyên Hồng 
(1991) [1]. Hệ sinh thái rừng ngập mặn này có 
tính đa dạng sinh học cao do có sự phong phú, 
_______ 
Tác giả liên hệ. ĐT.: 84-982797388. 
 Email: hanhctcr@gmail.com 
 https://doi.org/10.25073/2588-1094/vnuees.4286 
phức tạp về các đặc điểm địa mạo, thủy văn và 
khí hậu. Hệ thực vật trong tiểu khu 1 nói chung 
và khu vực này nói riêng tương đối phong phú 
với các loài chịu mặn cao, không có các loài ưa 
nước lợ điển hình (Phan Nguyên Hồng, 1999) 
[2]. Đặc điểm về thành phần loài khá đặc trưng, 
bao gồm một số loài như Đâng (Rhizophora 
stylosa), Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza), 
Trang (Kandelia obovata) vốn phân bố phổ biến ở 
đây, nhưng rất ít gặp ở ven biển Nam Bộ, cũng 
như chỉ gặp rải rác ở ven viển Trung Bộ. 
Trong những năm gần đây, hệ sinh thái 
RNM xã Đồng Rui đã và đang chịu nhiều áp 
N.H. Hanh, M.S. Tuấn / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018120-130 
121 
lực do quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội 
thông qua các hoạt động khai thác và nuôi trồng 
thủy sản, làm mất đi nhiều diện tích RNM tự 
nhiên và làm ảnh hưởng đến chất lượng và quá 
trình tái sinh, phục hồi rừng ngập mặn. Những 
giải pháp phục hồi rừng ngập mặn, đã và đang 
được đưa ra, kể cả việc trồng rừng ngập mặn 
trong các đầm nuôi trông thuỷ sản đã bỏ hoang. 
Để có cơ sở khoa học cho việc phục hồi và 
quản lí hiệu quả hệ sinh thái RNM xã Đồng Rui 
cần phải có thông tin đáng tin cậy, có tính cập 
nhật về hiện trạng thảm thực vật tại đây. 
Vì vậy chúng tôi đã sử dụng kết hợp nhiều 
phương pháp khác nhau bao gồm điều tra thực 
địa, phân tích ảnh vệ tinh, sử dụng thiết bị bay 
không người lái để nghiên cứu, đánh giá hiện 
trạng thảm thực vật RNM xã Đồng Rui và xây 
dựng bản đồ phân bố các quần xã thực vật RNM. 
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 
2.1. Đối tượng, địa điểm nghiên cứu 
 Nghiên cứu được thực hiện tại khu vực 
rừng ngập mặn, bao gồm thực vật ngập mặn 
thực sự và các loài tham gia rừng ngập mặn 
xung quanh đảo Đồng Rui, huyện Tiên Yên, 
tỉnh Quảng Ninh (hình 1). 
Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ 
tháng 12 năm 2017 đến tháng 6 năm 2018. 
Khảo sát thực địa được tiến hành theo 3 đợt 
(12/2017, 3/2018; 6/2018). 
Hình 1. Sơ đồ vị trí nghiên cứu với các tuyến điều tra thực địa, chụp ảnh Flycam. 
N.H. Hanh, M.S. Tuấn / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 120-130 
122 
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
Phương pháp điều tra thực địa 
Tổng số 50 tuyến nghiên cứu phân bố đồng 
đều quanh xã (hình 1) đã được thiết lập và khảo 
sát theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn 
(2007) [3] để nghiên cứu đặc điểm của các kiểu 
quần xã thực vật ngập mặn và thu thập các mẫu 
thực vật để định danh. Thiết lập trên mỗi quần 
xã 3 ô tiêu chuẩn (OTC), diện tích 100 m2 (10 
m × 10 m), để thu thập các thông tin về thành 
phần loài, mật độ các cá thể của loài để đánh 
giá mức độ ưu thế của các loài trong các quần 
xã và phân loại các kiểu quần xã thực vật khu 
vực nghiên cứu, tổng số OTC đã thiết lập 
 là 42. 
Phương pháp phân tích mẫu thực vật 
Mẫu thực vật được định danh dựa theo các 
tài liệu của Phạm Hoàng Hộ [4] và Nguyễn 
Hoàng Trí (1996) [5]). Phân tích phổ dạng sống 
của hệ thực vật theo Raunkiær C. (1934) [4]. 
Phân tích giá trị nguồn gen quý hiếm theo 
“Sách Đỏ Việt Nam” của Bộ Khoa học và Công 
nghệ (2007) [6]. Giá trị sử dụng của các loài được 
đánh giá theo Võ Văn Chi (1996) [7], Đỗ Tất Lợi 
(1999) [8], Triệu Văn Hùng và cs (2007) [9]. 
Các kiểu quần xã thực vật nghiên cứu, sắp 
xếp, mô tả theo Phan Nguyên Hồng (1999) [2] 
và tổ hợp loài ưu thế theo Thái Văn Trừng [10]. 
Phương pháp phân tích ảnh vệ tinh và xây 
dựng bản đồ phân bố thảm thực vật ngập mặn 
Để xây dựng bản đồ phân bố rừng ngập 
mặn chi tiết, chúng tôi đã phân tích kết hợp bản 
đồ diễn biến rừng năm 2017 dựa trên nền bản 
đồ kiểm kê rừng năm 2016 - cung cấp bởi Chi 
cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh với việc phân 
tích ảnh vệ tinh VNREDsat, độ phân giải không 
gian 5m chụp tháng 10/2017, ảnh landsat chụp 
tháng 11/2017. Chúng tôi đã sử dụng bộ mẫu 
khoá ảnh MKA là căn cứ để giải đoán ảnh sử 
dụng ... n 
xã chiếm diện tích 118,38 ha và có phân bố tập 
trung ở phía Tây Bắc của đảo, tại các vùng 
ngập triều trung bình. Vẹt dù (B. gymnorrhiza), 
Đâng (R. stylosa) là hai loài chiếm ưu thế hơn 
so với Mắm biển (A. marina) và Trang (K. 
obovata) trong tổ thành loài. 
4. Quần xã Sú (A. corniculatum) + Mắm 
biển (A. marina) + Trang (K. obovata) + Đâng 
(R. stylosa) + Vẹt dù (B. gymnorrhiza) các loài 
ưu thế chiếm tỷ lệ trên 60%, thành phần và cấu 
trúc quần xã, trong đó chủ yếu các loài cây gỗ 
cao khoảng 1,4m. Diện tích 200,66 ha, , phân bố 
từ phía Đông Bắc đến Tây Bắc, tại các vùng ngập 
triều thấp đến ngập triều trung bình rải rác ven 
sông, ven lạch. 
5. Quần xã Đâng (R. stylosa) + Vẹt dù (B. 
gymnorrhiza) + Sú (A. corniculatum) + Trang 
(K. obovata) + Mắm biển (A. marina) có diện 
tích 122,33 ha, trong đó gồm hầu hết các cây gỗ 
có chiều cao đạt đến khoảng 3m và tổ hợp các 
loài ưu thế chiếm 58% trong thành phần và cấu 
trúc của quần xã, là quần xã ổn định nhất của 
thảm thực vật ngập mặn Đồng Rui, phân bố tập 
trung từ phía Đông Bắc đến Tây Bắc của đảo, 
tại các vùng ngập triều trung bình. 
N.H. Hanh, M.S. Tuấn / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 120-130 
126 
Hình 5. Bản đồ phân bố thảm thực vật ngập mặn xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh năm 2018 (thu 
từ tỉ lệ 1/10.000). 
6. Quần xã Mắm biển (A. marina), đơn ưu 
này có trên 76% số cây mắm Biển (A. marina) 
với chiều cao trung bình khoảng 1,9m. Quần xã 
có diện tích là 75,69 ha, có phân bố rải rác toàn 
khu vực nghiên cứu. Mắm biển (A. marina) là 
loài cây tiên phong tại các vùng ngập triều thấp, 
ven sông phía bãi Lòng Vàng. Ngoài ra, Mắm 
biển (A. marina) còn phân bố ở các bãi ngập 
triều cao sát bờ đê. 
7. Quần xã Sú (A. corniculatum) + Trang 
(K. obovata) + Đâng (R. stylosa) + Vẹt dù (B. 
gymnorrhiza): Tổ hợp loài ưu thế chiếm tỷ lệ 
N.H. Hanh, M.S. Tuấn / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018120-130 
127 
trên 62% thành phần và cấu trúc của quần xã, 
gồm các cây gỗ cao trung bình khoảng 2,0m, 
phân bố từ phía Đông Bắc đến Tây Bắc của 
đảo, tại các vùng ngập triều thấp đến ngập triều 
trung bình ngay sau quần xã Sú (A. 
corniculatum), Trang (K. obovata) và có diện 
tích là 99,22 ha. 
8. Quần xã Sú (A. corniculatum) + Trang 
(K. obovata) + Mắm biển (A. marina): Tổ hợp 
loài ưu thế chiếm trên 59% thành phần và cấu 
trúc của quần xã, trên diện tích gần 12,16ha, 
quần xã này có phân bố tập trung ở khu vực 
phía Đông của đảo, tại các vùng ngập triều 
thấp, rải rác ven sông, ven lạch với hầu hết cây 
gỗ đạt chiều cao trung bình khoảng 2,1m. 
9. Quần xã Sú (A. corniculatum) + Trang 
(K. obovata): Tổ hợp loài ưu thế chiếm tỷ lệ 
trên 65% trong thành phần và cấu trúc của quần 
xã, với hầu hết các cây gỗ đạt chiều cao trung 
bình khoảng 2,5m, là quần xã có diện tích lớn 
nhất với 360,4 ha, có phân bố tập trung từ phía 
Đông Nam đến Tây Nam của đảo, tại các vùng 
ngập triều thấp rải rác ven sông, ven lạch. 
10. Quần xã Sú (A. corniculatum) + Bần 
chua (S. caseolaris) + Trang (K. obovata): Tổ 
hợp loài ưu thế chiếm tỷ lệ trên 55% trong 
thành phần và cấu trúc của quần xã với các cây 
gỗ cao trung bình 1,8m, đây là quần xã cây 
ngập mặn tự nhiên có diện tích nhỏ nhất tại khu 
vực nghiên cứu với 4,49 ha và có phân bố tập 
trung từ khu vực phía Tây của đảo, dọc theo 
đường đê vào trong đảo, tại các vùng ngập triều 
thấp rải rác ven sông Ba Chẽ. 
11. Quần xã Mắm biển (A. marina) ở các 
đầm tôm bỏ hoang: Khác với quần xã mắm biển 
tự nhiên, tại các đầm nuôi tôm bị bỏ hoang, 
Mắm biển (A. marina) chiếm đến 85% trong 
thành phần và cấu trúc của quần xã, cũng hình 
thành nên đơn ưu với các cây gỗ đạt chiều cao 
trung bình chỉ 1,3m nhưng chưa ổn định như 
đơn ưu Mắm biển tại những nơi khác. Đây là 
loài ưu thế thứ sinh do được hình thành sau khi 
đầm bị bỏ hoang. Diện tích của quần xã này 
khoảng 196,03 ha, quần xã phân bố tập trung từ 
phía Đông Bắc của đảo, tại các vùng ngập triều 
thấp và ngập triều trung bình. Ngoài Mắm biển 
(A. marina) chiếm ưu thế một số loài cây khác 
như Cóc vàng (L. racemosa), Giá (E. 
agallocha) và Vẹt dù cũng tham gia rải rác, bên 
cạnh đó cũng có thêm một số loài cỏ và cây 
trồng bổ sung như Trang (K. obovata), Đâng 
(R. stylosa). 
12. Quần xã Vẹt dù (B. gymnorrhiza): Vẹt 
dù chiếm ưu thế với hơn 90% số cá thể tỏng 
quần xã, đa số cây gỗ đạt chiều cao đến 2,6m,, 
là 1 trong 3 quần xã rừng ngập mặn tự nhiên có 
diện tích nhỏ nhất tại khu vực nghiên cứu, diện 
tích tổng thể của quần xã này chỉ đạt 23,41 ha. 
Quần xã này phân bố chủ yếu tại khu vực Đông 
Nam của đảo, tại các vùng ngập triều trung bình 
đến ngập triều cao. Trong quần xã vẫn thấy xuất 
hiện một số loài khác như Đâng (R. stylosa), 
Trang (K. obovata) với số lượng không 
đáng kể. 
13. Quần xã Cóc vàng (L. racemosa) + Giá 
(E. agallocha) + Mắm biển (A. marina) các loài 
trong tổ hợp ưu thế chiếm tỷ lệ trên 60% về 
thành phần và cấu trúc và thường gồm các cây 
gỗ có chiều cao đến 1,4m. Quần xã này có diện 
tích quần xã là 43,95 ha, phân bố từ phía Đông 
Nam đến Tây Nam của đảo, trên các vùng ngập 
triều cao, hoặc ít khi ngập triều. Có một số loài 
tham gia như Tra (H. tiliaceus), Ráng biển (A. 
aureum), Dứa dại (Pandanus tonkinensis) và 
các loài cỏ. 
14. Rừng trồng ngập mặn Trang (K. 
obovata) và Đâng (R. stylosa): Hai loài này 
chiếm tỷ lệ 80% trong thành phần và cấu trúc 
của quần xã với các cây gỗ có chiều cao trung 
bình đạt 2,5m. Quần xã chiếm diện tích khá lớn 
tại khu vực nghiên cứu với diện tích trên 549,97 
ha. Tập trung rừng trồng ngập mặn tại các khu 
vực rải rác quanh đảo và trong các đầm nuôi 
trồng thủy sản đã bỏ hoang. 
Ngoài các quần xã thực vật ngập mặn ra, ở 
Đồng Rui còn có các quần xã khác phân bố 
hoàn toàn trên cạn như rừng trồng và đất canh 
tác nông nghiệp, đất khác (bao gồm cả trảng 
bụi, trảng cỏ),với tổng diện tích 30,91ha. 
Kết quả phân chia một số quần xã theo phân 
bố tại khu vực rừng ngập mặn Đồng Rui theo 
bảng 2 sau: 
N.H. Hanh, M.S. Tuấn / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 120-130 
128 
Bảng 2. Chiều cao và phân bố các quần xã rừng ngập mặn khu vực Đồng Rui 
Quần 
xã số 
Tên quần xã Chiều cao (m) Phân bố 
1 Vẹt dù (B. gymnorrhiza) + Đâng (R. stylosa): 2,8 
Các vùng ngập triều trung 
bình đến ngập triều cao 
2 
Vẹt dù (B. gymnorrhiza) + Đâng (R. stylosa) + Sú 
(A. corniculatum) + Trang (K. obovata) 
2,0 
Tại các vùng ngập triều 
trung bình 
3 
Vẹt dù (B. gymnorrhiza) + Đâng (R. stylosa) + Mắm 
biển (A. marina) + Trang (K. obovata) 
2,3 
Các vùng ngập triều trung 
bình 
4 
Sú (A. corniculatum) + Mắm biển (A. marina) + 
Trang (K. obovata) + Đâng (R. stylosa) + Vẹt dù (B. 
gymnorrhiza) 
1,4 
Các vùng ngập triều thấp đến 
ngập triều trung bình rải rác 
ven sông, ven lạch 
5 
Đâng (R. stylosa) + Vẹt dù (B. gymnorrhiza) + Sú 
(A. corniculatum) + Trang (K. obovata) + Mắm biển 
(A. marina) 
3,0 
Các vùng ngập triều trung 
bình 
6 Mắm biển (A. marina) 1,9 
Các vùng ngập triều thấp, 
ven sông 
7 
Sú (A. corniculatum) + Trang (K. obovata) + Đâng 
(R. stylosa) + Vẹt dù (B. gymnorrhiza) 
2,0 
Các vùng ngập triều thấp 
đến ngập triều trung bình 
8 
Sú (A. corniculatum) + Trang (K. obovata) + Mắm 
biển (A. marina) 
2,1 
Tại các vùng ngập triều 
thấp, rải rác ven ong, ven 
lạch 
9 Sú (A. corniculatum) + Trang (K. obovata) 2,5 
Tại các vùng ngập triều 
thấp rải rác ven ong, 
 ven lạch 
10 
Sú (A. corniculatum) + Bần chua (S. caseolaris) + 
Trang (K. obovata) 
1,8 
Dọc theo đường đê vào 
trong đảo, tại các vùng 
ngập triều thấp rải rác ven 
sông 
11 Mắm biển (A. marina) ở các đầm tôm bỏ hoang 1,3 
Tại các vùng ngập triều 
thấp và ngập triều trung 
bình 
12 Vẹt dù (B. gymnorrhiza) 2,6 
Tại các vùng ngập triều 
trung bình đến ngập triều 
cao 
13 
Cóc vàng (L. racemosa) + Giá (E. agallocha) + 
Mắm biển (A. marina) 
1.4 
Các vùng ngập triều cao, 
hoặc ít khi ngập triều 
14 
Rừng trồng ngập mặn Trang (K. obovata) và Đâng 
(R. stylosa) 
2,5 
Tại các vùng triều trung 
bình 
Qua bảng trên nhận thấy sự thay đổi của 
loài theo chiều hướng từ khu vực bãi bồi có chế 
độ ngập triều thấp (đơn ưu hoặc các quần xã có 
chiều cao từ 1m đến 1,5m), đặc trưng ở khu vực 
này là quần xã tiên phong Mắm biển, ở chế độ 
ngập triều trung bình đại diện các quần xã đang 
phát triển như Sú, Trang, Bần chua. Sự phân bố 
các quần xã ổn định như Đâng, Vẹt dù ở vùng 
ngập triều cao. Khu vực bãi bồi ít ngập triều đại 
diện quần xã Cóc vàng và Giá. 
N.H. Hanh, M.S. Tuấn / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018120-130 
129 
Chuỗi diễn thế sinh thái được chúng tôi xây 
dựng dựa trên kết quả nghiên cứu trên như sau: 
Chuỗi diễn thế đại diện phía Đông Nam của 
đảo Đồng Rui: Sú, Trang Sú, Trang, Đâng, 
Vẹt dù Vẹt dù, Đâng, Sú, Trang Vẹt dù, 
Đâng Vẹt dù Cóc vàng, Giá, Mắm biển; 
Chuỗi diễn thế đại diện cho khu vực phía Tây 
Bắc của đảo Đồng Rui: Mắm biển Sú, 
Trang, Mắm biển Sú, Mắm biển, Trang, 
Đâng, Vẹt dù Đâng, Vẹt dù, Sú, Trang, Mắm 
biển Vẹt dù, Đâng, Mắm biển, Trang Cóc 
vàng, Giá, Mắm biển. 
4. Kết luận 
Hệ thực vật ngập mặn Đồng Rui có tổng số 
144 loài thuộc 115 chi, 53 họ và hai ngành , 
trong đó có 16 loài thuộc nhóm cây ngập mặn 
thực sự. Các loài Trang (K. obovata), Đâng (R. 
stylosa), Vẹt dù (B. gymnorrhiza), Mắm biển 
(A. marina) Sú (A. corniculatum) là nhóm loài 
ưu thế trong thảm thực vật ngập mặn. Ghi nhận 
một loài thực vật sẽ nguy cấp và nguy cấp được 
ghi trong Sách Đỏ Việt Nam là Cỏ ngạn (S. 
kimsonensis). Kết quả nghiên cứu cũng cho 
thấy có 87,5% tổng số loài là những loài có 
công dụng, chủ yếu được sử dụng làm dược liệu 
và làm thức ăn. Đã xác định được 14 quần xã 
thực vật thuộc thảm thực vật ngập mặn tại khu 
vực xã Đồng Rui, các quần xã này có sự phân 
bố thay đổi theo chiều cao trung bình loài và 
theo không gian từ khu vực bãi bồi có chế độ 
ngập triều thấp như quần xã Mắm biển (A. 
marina) đến các quần xã Trang (K. obovata), 
Bần chua (S. caseolaris), Sú (A. corniculatum), 
Đâng (R. Stylosa), Cóc vàng (L. racemosa), Giá 
(E. agallocha) ở các khu vực có chế độ ngập 
triều trung bình đến cao hoặc ít khi ngập triều. 
Tổng hợp kết quả phân tích ảnh vệ tinh, chúng 
tôi đã xây dựng được bản đồ phân bố của các 
quần xã và chuỗi diễn thế sinh thái của rừng 
ngập mặn Đồng Rui. 
Tài liệu tham khảo 
[1] Phan Nguyên Hồng (1991), Thảm Thực vật rừng 
ngập mặn Việt Nam, Đại học Tổng hợp Hà Nội. 
Luận án Tiến sĩ Sinh học. 
[2] Phan Nguyên Hồng (1999), Rừng ngập mặn Việt 
Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội. 
[3] Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), Các phương pháp 
nghiên cứu thực vật, Nhà xuất bản Đại học Quốc 
gia Hà Nội. 
[4] Phạm Hoàng Hộ (1991-1993), Cây cỏ Việt Nam, 
Tập 1-3, Nhà xuất bản Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh. 
[5] Nguyễn Hoàng Trí (1999), Sinh thái học rừng 
ngập mặn, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội. 
[6] Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Sách Đỏ Việt 
Nam, phần Thực vật., Nhà xuất bản Khoa học Tự 
nhiên và Công nghệ Hà Nội. 
[7] Võ Văn Chi (1996), Từ điển cây thuốc Việt Nam, 
Nhà xuất bản Y học, Hà Nội. 
[8] Đỗ Tất Lợi (1999), Những cây thuốc và vị thuốc 
Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, 
Hà Nội. 
[9] Triệu Văn Hùng (chủ biên) (2007), Lâm sản ngoài 
gỗ, Dự án hộ trợ chuyên ngành Lâm sản ngoài gỗ 
tại Việt Nam – Pha 2. Nhà xuất bản Bản đồ, 
Hà Nội. 
[10] Thái Văn Trừng (1999), Những hệ sinh thái rừng 
nhiệt đới ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học và 
Kĩ thuật, Tp. Hồ Chí Minh. 
[11] Bảo Huy, Nguyễn Thị Thanh Hương, 2014. Sử 
dụng ảnh vệ tinh SPOT 5 và GIS để ước tính và 
giám sát sinh khối, carbon ở rừng lá rộng thường 
xanh vùng Tây nguyên. Tạp chí Khoa học Công 
nghệ Việt Nam, số 9, tr. 52-58. 
[12] Trần Quang Bảo, Nguyễn Văn Thị, Phạm Văn 
Duẩn (2014), Ứng dụng GIS trong quản lý tài 
nguyên thiên nhiên. Nhà xuất bản Nông nghiệp, 
Hà Nội. 
[13] Tổng cục Môi trường – Cục Bảo tồn đa dạng sinh 
học (2015), Hiện trạng đa dạng sinh học của Vườn 
Quốc gia Xuân Thủy tỉnh Nam Định, Nhà xuất 
bản Hồng Đức. 
[14] Nguyễn Quang Hùng (2011), Nghiên cứu, đánh 
giá nguồn lợi thuỷ sản và đa dạng sinh học của 
một số vùng rừng ngập mặn điển hình để khai 
thác hợp lý và phát triển bền vững. 
[15] Raunkiær C., (1934). The Life Forms of Plants 
and Statistical Plant Geography. Introduction by 
A.G. Tansley. Oxford University Press, Oxford. 
N.H. Hanh, M.S. Tuấn / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 34, Số 3 (2018) 120-130 
130 
 Status of Mangrove Vegetation in Dong Rui Commune, 
Tien Yen District, Quang Ninh Province 
Nguyen Hoang Hanh1, Mai Sy Tuan2 
1
Institute of Ecology and Works Protection, 267 Chua Boc, Dong Da, Hanoi, Vietnam 
2
Hanoi University of Education, 136 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam 
Abstract: The methods as field survey, aerial photo analysis, Flycam were used for study and 
assess the current status of mangrove vegetation in Dong Rui commune, Tien Yen district, Quang 
Ninh province. The survey data was also used for distribution mapping of mangrove plant 
communities. A total of 144 plant species belonging to 115 genera, 53 families and two vascular plant 
divisions, including Pteriophyta and Magnoliophyta were recorded in Dong Rui mangroves and 16 of 
which are true mangroves species. Kandelia obovata, Rhizophora stylosa, Bruguiera gymnorrhiza, 
Avicennia spp., Aegiceras corniculatum, are dominant species in Dong Rui mangroves. Scirpus 
kimsonensis was identified as EN species based on the Red Data Book of Vietnam (2007). About 
87.5% of the total species have potential in use such as as medicine and edible and ect.. 14 plant 
communities of Dong Rui mangroves was identified and mapped. 
Keywords: Mangrove forest, Dong Rui, plant communities. 

File đính kèm:

  • pdfhien_trang_tham_thuc_vat_ngap_man_xa_dong_rui_huyen_tien_yen.pdf