Thực trạng kĩ năng giao tiếp của sinh viên trường đại học sư phạm, đại học Huế

Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng kĩ năng giao tiếp của sinh viên

sư phạm trước yêu cầu đổi mới của chương trình giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực học

sinh. Tổng số 442 sinh viên Khoa Tâm lí – Giáo dục, Khoa Giáo dục Tiểu học và Khoa Giáo

dục mầm non của trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Huế tham gia vào nghiên cứu thông

qua việc trả lời bộ trắc nghiệm giao tiếp của V.P Dakharov, bảng hỏi và phỏng vấn sâu. Kết

quả nghiên cứu cho thấy kĩ năng giao tiếp của sinh viên còn hạn chế, đa số ở mức trung bình

và mức thấp; không có sự khác biệt về mức độ kĩ năng giao tiếp ở sinh viên nam, sinh viên

nữ, sinh viên giới tính thứ 3 và giữa các ngành học. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để nhà

trường, giảng viên xây dựng được các biện pháp nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp cho sinh

viên một cách có hiệu quả. Mặt khác, giúp sinh viên nhận thức đúng về thực trạng kĩ năng

giao tiếp của bản thân, từ đó có ý thức trong việc rèn luyện để nâng cao kĩ năng giao tiếp.

Thực trạng kĩ năng giao tiếp của sinh viên trường đại học sư phạm, đại học Huế trang 1

Trang 1

Thực trạng kĩ năng giao tiếp của sinh viên trường đại học sư phạm, đại học Huế trang 2

Trang 2

Thực trạng kĩ năng giao tiếp của sinh viên trường đại học sư phạm, đại học Huế trang 3

Trang 3

Thực trạng kĩ năng giao tiếp của sinh viên trường đại học sư phạm, đại học Huế trang 4

Trang 4

Thực trạng kĩ năng giao tiếp của sinh viên trường đại học sư phạm, đại học Huế trang 5

Trang 5

Thực trạng kĩ năng giao tiếp của sinh viên trường đại học sư phạm, đại học Huế trang 6

Trang 6

Thực trạng kĩ năng giao tiếp của sinh viên trường đại học sư phạm, đại học Huế trang 7

Trang 7

Thực trạng kĩ năng giao tiếp của sinh viên trường đại học sư phạm, đại học Huế trang 8

Trang 8

Thực trạng kĩ năng giao tiếp của sinh viên trường đại học sư phạm, đại học Huế trang 9

Trang 9

Thực trạng kĩ năng giao tiếp của sinh viên trường đại học sư phạm, đại học Huế trang 10

Trang 10

pdf 10 trang minhkhanh 53540
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng kĩ năng giao tiếp của sinh viên trường đại học sư phạm, đại học Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Thực trạng kĩ năng giao tiếp của sinh viên trường đại học sư phạm, đại học Huế

Thực trạng kĩ năng giao tiếp của sinh viên trường đại học sư phạm, đại học Huế
186 
HNUE JOURNAL OF SCIENCE DOI: 10.18173/2354-1075.2020-0039 
Educational Sciences, 2020, Volume 65, Issue 4C, pp. 186-195 
This paper is available online at  
THỰC TRẠNG KĨ NĂNG GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN 
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM, ĐẠI HỌC HUẾ 
Hồ Văn Dũng* và Nguyễn Thị Ngọc Bé 
Khoa Tâm lí – Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế 
Tóm tắt: Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng kĩ năng giao tiếp của sinh viên 
sư phạm trước yêu cầu đổi mới của chương trình giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực học 
sinh. Tổng số 442 sinh viên Khoa Tâm lí – Giáo dục, Khoa Giáo dục Tiểu học và Khoa Giáo 
dục mầm non của trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Huế tham gia vào nghiên cứu thông 
qua việc trả lời bộ trắc nghiệm giao tiếp của V.P Dakharov, bảng hỏi và phỏng vấn sâu. Kết 
quả nghiên cứu cho thấy kĩ năng giao tiếp của sinh viên còn hạn chế, đa số ở mức trung bình 
và mức thấp; không có sự khác biệt về mức độ kĩ năng giao tiếp ở sinh viên nam, sinh viên 
nữ, sinh viên giới tính thứ 3 và giữa các ngành học. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để nhà 
trường, giảng viên xây dựng được các biện pháp nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp cho sinh 
viên một cách có hiệu quả. Mặt khác, giúp sinh viên nhận thức đúng về thực trạng kĩ năng 
giao tiếp của bản thân, từ đó có ý thức trong việc rèn luyện để nâng cao kĩ năng giao tiếp. 
Từ khóa: giao tiếp, kĩ năng giao tiếp, sinh viên sư phạm, Đại học Sư phạm, Đại học Huế. 
1. Mở đầu 
Kĩ năng giao tiếp (KNGT) được hiểu là năng lực vận dụng có hiệu quả những tri thức về quá 
trình giao tiếp, về những yếu tố tham gia và tác động tới quá trình này cũng như sử dụng có hiệu 
quả và phối hợp hài hòa các phương tiện giao tiếp ngôn ngữ, phi ngôn ngữ và phương tiện kĩ thuật 
để đạt mục đích đã định trong giao tiếp [1]. KNGT chiếm vị trí vô cùng quan trọng đối với cuộc 
sống thực tiễn, hoạt động lao động của con người, phương tiện để con người hợp tác cùng nhau, 
hướng tới mục đích bình đẳng, hạnh phúc. Nhu cầu giao tiếp là nhu cầu quan trọng của con người. 
Để thỏa mãn nhu cầu giao tiếp và tiến hành giao tiếp có kết quả, con người cần có kĩ năng giao 
tiếp, nhưng như I.C.Vapilic đã nói: “Giao thiệp với mọi người là một nghệ thuật mà không phải 
ai cũng nắm được. Bất kì ai cũng phải học điều đó” [2]. Ở New Zealand, chương trình giáo dục 
đã chú ý xây dựng giáo dục các KNGT cho trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non, mục tiêu của giáo dục 
New Zealand là làm thế nào giúp trẻ tự tin vào bản thân, khoẻ mạnh về thể chất và tâm hồn, có 
khả năng giao tiếp và tôn trọng tri thức [3]. Một trong bốn trụ cột của nền giáo dục toàn cầu trong 
thế kỉ XXI đã được UNESCO đề xuất là “học để cùng chung sống” và được coi là một trong 
những trụ cột quan trọng, then chốt của giáo dục hiện đại [4]. Một trong những kĩ năng (KN) toàn 
cầu đòi hỏi ở mỗi con người hoàn thiện là phải có “KNGT”. Tại Úc, Hội đồng Kinh doanh cùng 
với Phòng thương mại và công nghiệp có sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học và 
Hội đồng giáo dục quốc gia Úc đã xuất bản cuốn KN hành nghề cho tương lai. Các KN hành nghề 
do cuốn sách trình bày bao gồm 8 KN trong đó KNGT là một KN được đề cập đầu tiên. Điều đó 
cho thấy vai trò quan trọng của KNGT trong xã hội [5]. 
Ngày nhận bài: 28/2/2020. Ngày sửa bài: 7/3/2020. Ngày nhận đăng: 2/4/2020. 
Tác giả liên hệ: Hồ Văn Dũng. Địa chỉ e-mail: dunghv72@gmail.com 
Thực trạng kĩ năng giao tiếp của sinh viên trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế 
187 
Ở Việt Nam, có khá nhiều công trình nghiên cứu về KNGT, cụ thể nghiên cứu KNGT của 
sinh viên (SV) dưới góc độ KNGT sư phạm và các KN nghiệp vụ sư phạm của SV có các công 
trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Công Hoàn, Hoàng Anh (1999), Nguyễn Văn Luỹ và Lê 
Quang Sơn (2014); Nguyễn Thị Thanh Bình và Vũ Thị Ngọc Tú (2017); [6-8]. Trần Trọng 
Thủy với bài Tình người, giao tiếp và văn hóa giao tiếp (1998) đã phân tích mối quan hệ giữa 
tình người, văn hóa và giao tiếp. Giao tiếp chính là phương tiện thể hiện tình người, là hình thức 
tác động qua lại của con người trong quá trình sống và hoạt động cùng nhau [9]. Tác giả Lò Thị 
Mai Thoan (2005) cho rằng khả năng giao tiếp là một khả năng rất quan trọng đối với người làm 
nghề dạy học và có ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động mà người giáo viên tiến hành như: dạy 
học và giáo dục,... [10]. 
Về vấn đề trở ngại trong giao tiếp của SV và SV sư phạm cũng được các nhà nghiên cứu 
quan tâm. V.A. Cancalic (1987) khi nghiên cứu giao tiếp sư phạm đã nêu ra một số trở ngại trong 
giao tiếp của SV sư phạm như: Không biết cách dàn xếp, tổ chức một cuộc tiếp xúc; không hiểu 
lập trường của đối tượng giao tiếp; thụ động trong giao tiếp; có tâm trạng lo lắng, sợ hãi; lúng 
túng khi điều khiển trạng thái tâm lí của bản thân trong giao tiếp; không biết cách xây dựng mối 
quan hệ qua lại và đổi mới mối quan hệ đó tùy theo nhiệm vụ sư phạm; bắt chước máy móc cách 
ứng xử của các giáo viên [11]. Njumbwa (2008) thì lại giải thích vì thời gian trên lớp hạn chế, 
nên giáo viên chỉ hướng dẫn được những kĩ năng kĩ thuật cơ bản nên dẫn đến việc kĩ năng giao 
tiếp của SV không được tốt [12]. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Bình (1996) cũng 
cho thấy trở ngại thường gặp ở SV khi giao tiếp thuộc về KNGT: “Lúng túng khi điều khiển giao 
tiếp với học sinh” và “Chưa làm chủ trạng thái tâm lí của bản thân” [11]. Kết quả nghiên cứu của 
Đậu Minh Long (2007) đã chỉ ra nguyên nhân cơ bản khiến cho SV sư phạm năm thứ nhất gặp 
nhiều trở ngại trong giao tiếp là do thiếu kiến thức về giao tiếp và chưa được trang bị, rèn luyện 
về các KNGT [13]. Tác giả Huỳnh Cát Dung (2010) nghiên cứu về Trở ngại tâm lí trong giao 
tiếp của SV với giảng viên cho thấy: khi giao tiếp với giảng viên, SV gặp rất nhiều trở ngại về mặt 
tâm lí, biểu hiện của các trở ngại này rất đa dạng như không dám phát biểu ý kiến, phát biểu lí nhí 
khi có yêu cầu, nói chuyện trong lớp. Những biểu hiện này làm cản trở quá trình giao tiếp giữa 
giảng viên và SV, ảnh hưởng đến kết quả ... g giao tiếp”. SV còn hạn chế về KN diễn đạt khi giao tiếp và 
thường rụt rè, nhút nhát trong tiếp xúc với người khác, với những người chưa quen biết. Nhiều 
SV không tự chủ được cảm xúc và hành vi trong giao tiếp. Mức độ chênh lệch giữa điểm trung 
bình cao nhất và thấp nhất không nhiều (0,37). 
Bảng 2. Thực trạng kĩ năng giao tiếp của sinh viên trường Đại học Sư phạm, 
Đại học Huế dưới lát cắt khối lớp 
Các nhóm 
kĩ năng 
SV 1 SV năm 2 SV năm 3 SV năm 4 
F p 
SL ĐTB TB SL ĐTB TB SL ĐTB TB SL ĐTB TB 
KN 1 111 1,04 7 101 1,07 6 106 1,07 6 124 1,05 8 0,55 0,65 
KN 1 111 0,97 8 101 0,99 9 106 0,99 7 124 0,98 9 0,23 0,88 
KN 3 111 0,96 9 101 1,04 8 106 1,07 6 124 1,10 6 5,31 0,001 
KN 4 111 0,96 9 101 1,05 7 106 0,97 8 124 1,06 7 3,75 0,011 
KN 5 111 1,22 3 101 1,21 4 106 1,21 4 124 1,26 3 1,04 0,37 
KN 6 111 1,27 2 101 1,28 1 106 1,27 2 124 1,30 2 0,53 0,66 
KN 7 111 1,17 4 101 1,23 3 106 1,23 3 124 1,26 3 2,33 0,07 
KN 8 111 1,10 6 101 1,13 5 106 1,13 5 124 1,16 4 1,22 0,30 
KN 9 111 1,11 5 101 1,13 5 106 1,13 5 124 1,13 5 0,19 0,90 
KN 10 111 1,29 1 101 1,26 2 106 1,30 1 124 1,33 1 1,53 0,21 
Chú thích: SL: số lượng; TB: Thứ bậc; ĐTB: Điểm trung bình 
Kết quả trên cũng cho thấy hầu hết SV ở cả 4 khối đều có mức độ giao tiếp tương đương 
nhau và đều ở mức trung bình và thấp. Riêng ở nhóm KN 3 “KN lắng nghe đối tượng giao tiếp” 
giữa các năm có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê, với p = 0,001 < 0,05, trong đó mức độ 
KNGT của SV năm 1 thấp hơn so với SV năm 2, 3 và 4. Và ở nhóm KN 4 “KN tự chủ cảm xúc, 
hành vi” giữa các năm có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê, với p = 0,011 < 0,05, trong đó mức 
độ KNGT ở SV năm 1 và 3 mức thấp hơn so với SV năm 2 và 4. Kết quả nghiên cứu có sự đồng 
nhất với nghiên cứu của Châu Thúy Kiều (2010) về KNGT của SV sư phạm trường Cao đẳng 
Cần Thơ [16]. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng SV năm I, II, III có sự tương đồng ở các nhóm 
 Hồ Văn Dũng* và Nguyễn Thị Ngọc Bé 
192 
KNGT. Nghiên cứu của Zanaton Haji Iksan và cộng sự năm 2012 về KNGT giữa các SV đại học 
đã cho thấy SV năm cuối có KNGT tốt hơn với các SV khác, với mức trung bình từ 3,89 đến 4,09 
đây là mức KNGT tốt nhất [21]. Kết quả nghiên cứu Kevin B. Wright và cộng sự (2006) về thái 
độ của SV y khoa đối với việc đào tạo KNGT và kiến thức giao tiếp lại cho thấy, giữa SV năm 
thứ nhất và SV năm thứ 4 có có sự khác nhau giữa KNGT. Trong đó, SV thứ 4 có kĩ năng giao 
giao tiếp tốt hơn SV năm thứ nhất về thái độ tích cực cũng như nhận thức và sự tự tin trong giao 
tiếp [25]. 
Kết quả điều tra cho thấy, hầu hết ở các nhóm KNGT của SV ở các 4 khối năm 1, 2, 3, 4 đều 
ở mức trung bình và mức thấp. Vậy tại sao SV có cùng mức độ KNGT trong khi các em vào 
trường với những mốc thời gian khác nhau, được học tập, rèn luyện trong những khoảng thời gian 
khác nhau. Mặt khác, chương trình đào tạo cử nhân ở cả 3 khoa Giáo dục Tiểu học, Giáo dục 
Mầm non, Tâm lí giáo dục có các học phần liên quan đến việc rèn luyện KNGT như Rèn luyện 
nghiệp vụ sư phạm thường xuyên, Hoạt động trải nghiệm, đặc biệt là SV khoa Tâm lí giáo dục 
được học các học phần về giao tiếp như Giao tiếp sư phạm, Tâm lí học giáo tiếp, KN sống. Điều 
này có thể do những học phần này chưa thực sự mang lại hiệu quả cao đối với SV. Bên cạnh đó, 
thời lượng chương trình dạy học của những học phần này khá ít, với 2 tín chỉ tương đương với 30 
tiết dạy học trên lớp. Trong khi đó, đối với các học phần này cần nhiều thời gian để SV có thể 
thực hành trong quá trình học tập nhằm mang lại hiệu quả cao nhất. Nghiên cứu của Njumbwa 
(2008) cũng giải thích rằng vì thời gian trên lớp hạn chế, nên giáo viên chỉ hướng dẫn được những 
kĩ năng kĩ thuật cơ bản nên dẫn đến việc KNGT của SV không được tốt [12]. Christie (2012) đã 
trích dẫn việc thiếu các chiến lược cụ thể để hỗ trợ các giảng viên trong việc tăng cường các 
KNGT giữa các cá nhân SV của họ [26]. Vì vậy, để nâng cao KNGT cho SV, nhà trường, các 
Khoa và cán bộ giảng viên cần phải quan tâm và chú trọng rèn luyện KNGT cho SV, xây dựng 
môi trường rèn luyện KNGT tốt và đặc biệt chú trọng đưa học phần Giao tiếp sư phạm vào chương 
trình đào tạo của SV toàn trường. Mặt khác, nâng cao nhận thức cho SV về tầm quan trọng của 
KNGT đối với học tập, công việc và cuộc sống sau này, để từ đó các em có ý thức hơn trong việc 
tự rèn luyện KNGT cho bản thân và nâng cao KNGT của mình. 
2.2.4. Thực trạng kĩ năng giao tiếp của sinh viên trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế dưới 
lát cắt chuyên ngành 
Kết quả nghiên cứu ở Biểu đồ 2 cho thấy mức độ KNGT giữa SV các ngành không có sự 
khác biệt và đều nằm ở ngưỡng trung bình và thấp, ĐTB dao động từ 0,98 – 1,3; mức độ chênh 
lệch giữa điểm trung bình cao nhất và thấp nhất không nhiều. Xét theo chuyên ngành học của SV 
có thể thấy, đối với SV chuyên ngành Tâm lí Giáo dục, “KN sự nhạy cảm trong giao tiếp” có 
ĐTB cao nhất trong 10 nhóm KN (với ĐTB= 1,26), tiếp theo là “KN diễn đạt cụ thể, dễ hiểu” và 
“KN điều khiển đối tượng giao tiếp với ĐTB lần lượt là 1,25 và 1,20. Ngược lại, ở “KN cân bằng 
nhu cầu của chủ thể và đối tượng giao tiếp” và “KN tự chủ cảm xúc, hành vi có ĐTB thấp nhất. 
Đối với chuyên ngành Giáo dục Tiểu học, “KN sự nhạy cảm trong giao tiếp” có điểm TB 
cao nhất trong 10 nhóm KN (ĐTB= 1,31). Tiếp theo là “KN diễn đạt cụ thể, dễ hiểu” (ĐTB= 
1,28). Ngược lại, “KN cân bằng nhu cầu của chủ thể và đối tượng giao tiếp” và “KN lắng nghe 
đối tượng giao tiếp” có mức độ thấp nhất với ĐTB lần lượt là 0,98 và 1,02. Kết quả này cho thấy 
có sự tương đồng giữa SV các khoa về mức độ của các nhóm kĩ năng trên. Kết quả của chúng tôi 
cũng đồng nhất với kết quả nghiên cứu của Châu Thuý Kiều (2010). Châu Thuý Kiều (2010) 
trong nghiên cứu về KNGT của SV sư phạm trường Cao đẳng Cần Thơ cho thấy mức độ KNGT 
của SV các ngành Cao đẳng Sư phạm Tiểu học, Cao đẳng Sư phạm Mầm non, Trung cấp Sư phạm 
Mầm non tương đương nhau. 
Thực trạng kĩ năng giao tiếp của sinh viên trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế 
193 
Biểu đồ 2. Thực trạng kĩ năng giao tiếp của sinh viên trường Đại học Sư phạm, 
 Đại học Huế dưới lát cắt chuyên ngành 
3. Kết luận 
KNGT đóng vai trò rất quan trọng trọng học tập, công việc và cuộc sống của mỗi cá nhân 
nói chung và SV sư phạm nói riêng. Chính từ kiến thức và KNGT giúp SV có những mối quan 
hệ tốt đối với bạn bè, thầy cô. Điều này sẽ là nhân tố giúp tạo điều kiện tốt cho việc học tập, học 
hỏi, giao lưu, lĩnh hội tri thức. Mặt khác, sau khi rời khỏi ghế nhà trường, SV có KNGT tốt sẽ 
giúp các em sống tốt, làm việc thành công trong các mối quan hệ xã hội, trong môi trường làm 
việc của mình, đặc biệt là trước yêu cầu đổi mới của chương trình giáo dục theo hướng tiếp 
cận năng lực học sinh theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ban hành Chương trình giáo dục 
phổ thông mới. 
Nghiên cứu đã tập trung làm rõ bức tranh về thực trạng KNGT của SV trường ĐHSP, ĐH 
Huế. Kết quả khảo sát cho thấy: đa số SV có mức độ KNGT ở mức trung bình, trong đó nhóm 
“KN cân bằng nhu cầu của chủ thể và đối tượng giao tiếp” có ĐTB thấp nhất; không có sự khác 
biệt về mức độ KNGT ở SV nam, SV nữ và giới tính thứ 3; Ở lát cắt năm học, “KN lắng nghe đối 
tượng giao tiếp” ở SV năm 1 có ĐTB thấp hơn so với SV năm 2, năm 3 và năm 4. Và ở “KN tự 
chủ cảm xúc, hành vi” SV năm 1 và năm 3 có ĐTB thấp hơn so với SV năm 2 và 4, các KN còn 
lại không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê; Dưới lát cắt ngành học, mức độ KNGT giữa 
các ngành không có sự khác biệt, đều nằm ở ngưỡng trung bình và thấp, mức độ chênh lệch giữa 
điểm trung bình cao nhất và thấp nhất không nhiều. 
Từ kết quả nghiên cứu thực trạng về KNGT của SV cho thấy cần có những nghiên cứu sâu 
về những trở ngại, rào cản trong giao tiếp và các yếu tố ảnh hưởng đến KNGT của SV sư phạm. 
Đó sẽ là cơ sở giúp cho nhà trường, giảng viên xây dựng được các biện pháp phát triển KN giao 
tiếp cho SV một cách có hiệu quả. Mặt khác, giúp cho SV nhận ra được những mặt mạnh và mặt 
yếu, những thuận lợi và khó khăn để từ đó có định hướng đúng đắn nhằm phát triển và nâng cao 
KNGT cho bản thân. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
[1] Nguyễn Văn Đồng, 2010. Tâm lí học giao tiếp. Nxb Chính trị- hành chính. 
[2] Nguyễn Thạc, Hoàng Anh, 1991. Luyện giao tiếp Sư phạm., Trường Đại học Sư phạm Hà 
Nội I, Hà Nội. 
0
0.2
0.4
0.6
0.8
1
1.2
1.4
KN1 KN2 KN3 KN4 KN5 KN6 KN7 KN8 KN9 KN10
Tâm lý giáo dục
GD Mầm non
GD Tiểu học
 Hồ Văn Dũng* và Nguyễn Thị Ngọc Bé 
194 
[3] N. Anh, 2010. New Zealand chia sẻ kinh nghiệm giáo dục mầm non. Truy cập tại trang: 
https://www.vietnamplus.vn/new-zealand-chia-se-kinh-nghiem-giao-duc-mam-non/65779 
[4] Diane Tillman, 2009. Những giá trị sống cho tuổi trẻ, biên dịch Đỗ Ngọc Khánh, Ph.D. 
Thanh Tùng - Minh Tươi. Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh. 
[5] Phan Quốc Việt, 2009. Top 10 kĩ năng "mềm" để sống học tập và làm việc hiệu quả. Truy 
cập tại trang: https://dantri.com.vn/ban-doc/top-10-ky-nang-mem-de-song-hoc-tap-va-lam-
viec-hieu-qua-1251913221.htm 
[6] Nguyễn Công Hoàn, Hoàng Anh, 1999. Giao tiếp sư phạm. Nxb Giáo dục. 
[7] Nguyễn Văn Luỹ và Lê Quang Sơn, 2014. Giáo trình Giao tiếp sư phạm. Nxb Đại học sư 
phạm Hà Nội 
[8] Nguyễn Thị Thanh Bình và Vũ Thị Ngọc Tú, 2017. Giáo trình giao tiếp sư phạm. Nxb Đại 
học sư phạm Hà Nội 
[9] Trần Trọng Thuỷ, 1997. Tình người, giao tiếp và văn hoá giao tiếp. Tạp chí Thông tin Khoa 
học Giáo dục. Hà Nội. 
[10] Lò Thị Mai Thoan, 2005. Thực trạng khả năng giao tiếp của sinh viên Sư phạm tỉnh 
Sơn La. Tạp chí Tâm lí học, (2), (59-60-61). 
[11] Nguyễn Thị Thanh Bình, 1996. Nghiên cứu một số trở ngại tâm lí trong giao tiếp của sinh 
viên với học sinh khi thực tập tốt nghiệp. Luận án phó tiến sĩ khoa học. 
[12] Njumbwa, S., 2008. The undergraduate research experience of adult learners in an 
accelerated degree completion program. Journal of Continuing Higher Education, 56(3), 49-
60.  
[13] Đậu Minh Long, 2007. Những trở ngại tâm lí trong giao tiếp của sinh viên năm thứ nhất 
trường ĐH sư phạm, ĐH Huế. Tạp chí Tâm lí học số 3. 
[14] Huỳnh Cát Dung, 2010. Trở ngại tâm lí trong giao tiếp của sinh viên với giảng viên ở một 
số trường Đại học tại thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn thạc sĩ Tâm lí học. Trường Đại học 
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. 
[15] Nguyễn Huy Toàn, 2011. Kĩ năng giao tiếp của học viên trường Trung cấp cảnh sát nhân 
dân II. Luận văn thạc sĩ Tâm lí học 
[16] Châu Thúy Kiều, 2010. Kĩ năng giao tiếp của sinh viên sư phạm trường cao đẳng Cần Thơ. 
Luận văn thạc sĩ Tâm lí học, trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh. 
[17] Lê Đức Thọ, 2018. Nghiên cứu thực trạng kĩ năng giao tiếp của sinh viên trường Cao đẳng 
nghề Đà Nẵng. 
[18] Lê Quang Sơn, Nguyễn Thị Diễm, 2008. Đặc điểm giao tiếp của sinh viên trường Cao đẳng 
Sư phạm Quảng Trị. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng. Số 2 (25). 
[19] Yemeh, N., 2007. Improving the writing skills of Community Based Rehabilitation (CBR) 
students at the University of Education, Winneba. Retrieved November 18, 2010, from 
http:www. afri-can.org/Ghana/Naah.doc 
[20] Rosenfeld P, Giacalone RA, Riordan CA., 1995. Impression management in organizations: 
Theory, measurement, practice. London: Routledge 
[21] Zanaton Haji Iksan et al., 2012. Communication skills among university students. Procedia 
- Social and Behavioral Sciences, 59, 71 – 76 
[22] Mulac, A., 1998. The gender-linked language effect: Do language differences really make a 
difference? In D.J. Canary & K. Dindia (Eds.), Sex differences and similarities in 
Thực trạng kĩ năng giao tiếp của sinh viên trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế 
195 
communication: Critical essays and empirical investigations of sex and gender in interaction 
(pp. 127-153). Mahwah, NJ: Erlbaum 
[23] Nuray Selma Ozdipciner & et al., 2015. Factors affecting communication skills a case study 
on residents of Pamukkale, Turkey. International Journal of Economics, Commerce and 
Management. United Kingdom, Vol. III, Issue 2. 
[24] John Gray, 2013. Men Are From Mars, Women Are From Venus. 
[25] https://www.usatoday.com/story/life/books/2013/10/30/men-are-from-mars-women-are-
from-venus/3297375/ 
[26] Kevin B. Wright & et al., 2006. Medical Student Attitudes Toward Communication Skills 
Training and Knowledge of Appropriate Provider-Patient Communication: A Comparison 
of First-Year and Fourth-Year Medical Students. Med Educ Online [serial online];11:18 
Available from  
[27] Christie, N. V., 2012. An interpersonal skills learning taxonomy for program evaluators. 
Journal of Public Affairs Education, 18(4), 739–756. Retrieved from: 
ABSTRACT 
The reality of communication skills of students in University of education, Hue University 
Ho Van Dung* and Nguyen Thi Ngoc Be 
Department of Psychology - Education, University of Education, Hue University 
This study aims to understand the current communication skills of education students in the 
context of the innovation requirements of conpetency-based education. A total of 442 students of 
the Department of Psychology - Education, the Department of Primary Education, and the 
Department of Early Childhood Education at the University of Education of Hue University 
participated in the study, answered the communication test set of VP. Dakharov, questionnaire, 
and in-depth interview. The research results show that students' communication skills are still 
limited; most of them are average and low; There is no difference in the level of communication 
skills among male students, female students, third gender, and among disciplines. Research results 
are the basis for the university and lecturers to design measures developing communication skills 
for students effectively as well as to help students be aware of the situation of their communication 
skills. Thus, they are conscious of training to improve communication skills. 
Keywords: communication, communication skills, pedagogical students, University of 
Education, Hue University. 

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_ki_nang_giao_tiep_cua_sinh_vien_truong_dai_hoc_su.pdf