Di sản văn hóa thế giới ở Việt Nam với phát triển du lịch

Việt Nam có 27 di sản thiên nhiên và văn hóa được UNESCO công nhận dưới nhiều danh hiệu khác nhau. Ngoài ba di sản thiên nhiên thế giới là Vịnh Hạ Long, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng và Cao nguyên đá Đồng Văn, chúng ta có đến 24 di sản văn hóa được UNESCO vinh danh.

Di sản văn hóa thế giới ở Việt Nam với phát triển du lịch trang 1

Trang 1

Di sản văn hóa thế giới ở Việt Nam với phát triển du lịch trang 2

Trang 2

Di sản văn hóa thế giới ở Việt Nam với phát triển du lịch trang 3

Trang 3

Di sản văn hóa thế giới ở Việt Nam với phát triển du lịch trang 4

Trang 4

Di sản văn hóa thế giới ở Việt Nam với phát triển du lịch trang 5

Trang 5

Di sản văn hóa thế giới ở Việt Nam với phát triển du lịch trang 6

Trang 6

Di sản văn hóa thế giới ở Việt Nam với phát triển du lịch trang 7

Trang 7

Di sản văn hóa thế giới ở Việt Nam với phát triển du lịch trang 8

Trang 8

Di sản văn hóa thế giới ở Việt Nam với phát triển du lịch trang 9

Trang 9

Di sản văn hóa thế giới ở Việt Nam với phát triển du lịch trang 10

Trang 10

Tải về để xem bản đầy đủ

pdf 14 trang Danh Thịnh 12/01/2024 460
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Di sản văn hóa thế giới ở Việt Nam với phát triển du lịch", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Di sản văn hóa thế giới ở Việt Nam với phát triển du lịch

Di sản văn hóa thế giới ở Việt Nam với phát triển du lịch
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG Phan Huy Xu và tgk 
65 
DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI Ở VIỆT NAM 
VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH 
WORLD CULTURAL HERITAGE IN VIETNAM WITH TOURISM DEVELOPMENT 
PHAN HUY XU
 và VÕ VĂN THÀNH 
 PGS.TS. Trường Đại học Văn Lang, xuphanhuy@gmail.com, Mã số: TCKH09-02-2018 
 ThS. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, vonhanchi@gmail.com 
TÓM TẮT: Việt Nam có 27 di sản thiên nhiên và văn hóa được UNESCO công nhận dưới 
nhiều danh hiệu khác nhau. Ngoài ba di sản thiên nhiên thế giới là Vịnh Hạ Long, Vườn 
quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng và Cao nguyên đá Đồng Văn, chúng ta có đến 24 di sản 
văn hóa được UNESCO vinh danh. Những di sản văn hóa thế giới đó là tiềm năng to lớn 
để phát triển du lịch di sản ở Việt Nam. Du khách bị hấp dẫn bởi các điểm đến có sự bổ 
sung giữa cảnh đẹp tự nhiên và nền văn hóa truyền thống, gây ấn tượng mạnh và độc đáo, 
đặc biệt là các di sản văn hóa đã được UNESCO vinh danh. Bài viết này, chúng tôi đề cập 
đến Di sản Văn hóa Thế giới ở Việt Nam trong phát triển du lịch cùng những vấn đề có 
liên quan như một số khái niệm về di sản văn hóa thế giới của UNESCO với những tiêu chí 
công nhận, di sản văn hóa phi vật thể thế giới cũng như tiềm năng, thực trạng bảo tồn và 
phát huy giá trị di sản văn hóa thế giới ở Việt Nam trong du lịch. 
Từ khóa: Di sản Văn hóa Thế giới, di sản văn hóa phi vật thể, du lịch di sản, phát huy giá 
trị di sản, quản lý di sản,... 
ABSTRACTS: There are 27 natural and cultural heritages of Vietnam recognized by 
UNESCO under various titles. In addition to the three world natural heritages, Ha Long 
Bay, Phong Nha-Ke Bang National Park and Dong Van Karst Plateau, there are other 24 
cultural heritages that recognized. World cultural heritages are great potential for the 
development of heritage tourism in Vietnam. Visitors are fascinated by the places that 
include between natural beauty and traditional culture, which are impressive and unique, 
especially the cultural heritage was honored by UNESCO. In this article, we refer to the 
World Cultural Heritage in Vietnam in tourism development and related issues and some 
definitions of UNESCO's World Cultural Heritage with the criteria for accreditation. Also, 
we mention to the potential and current status of preserving and promoting the value of 
world cultural heritages in Vietnam to develop tourism. 
Key words: World Cultural Heritage, intangible cultural heritage, heritage tourism, 
promotion of heritage values, heritage management, etc. 
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG Số 09, Tháng 5 - 2018 
66 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Việt Nam là một quốc gia có nhiều di 
sản được UNESCO công nhận. Đến hết 
năm 2017, Việt Nam có tất cả 27 Di sản 
Thế giới, trong đó có 3 Di sản Thiên nhiên 
Thế giới và 24 Di sản Văn hóa Thế giới 
dưới nhiều danh hiệu. Như vậy, tiềm năng 
di sản của nước ta rất to lớn. Nhưng về mặt 
bảo tồn, phát huy và khai thác giá trị di sản 
văn hóa thế giới chưa tương xứng với tiềm 
năng. Bài viết này bước đầu tìm hiểu một 
số khái niệm và tiêu chí về di sản văn hóa 
thế giới, phân tích tiềm năng, thực trạng 
bảo tồn và khai thác các di sản văn hóa thế 
giới ở nước ta, đặc biệt, đối với sự phát 
triển của du lịch. Đồng thời, bài viết cũng 
nêu một số giải pháp về khai thác di sản 
văn hóa thế giới trong du lịch thời kỳ hội 
nhập quốc tế của nước ta hiện nay. 
2. NỘI DUNG 
Chúng tôi trích dẫn một số khái niệm 
về di sản văn hóa, di sản văn hóa phi vật 
thể của UNESCO làm cơ sở khoa học 
nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa di sản văn 
hóa thế giới và phát triển du lịch, vốn được 
xem là một ngành kinh tế mũi nhọn theo 
Nghị quyết số 08 - NQ/TW đã đề ra. 
2.1. Khái niệm và tiêu chí về Di sản Văn 
hóa của UNESCO 
Theo Công ước về Bảo vệ Di sản Văn 
hóa và Thiên nhiên Thế giới (Convention 
Concerning the Protection of the World 
Cultural and Natural heritage) của 
UNESCO, họp tại Paris từ 17/10 đến 
21/11/1972, kỳ họp lần thứ 17, tại Khoản 1, 
Điều 1 có quy định Di sản văn hóa là: 
“Các công trình kiến trúc, tác phẩm 
điêu khắc và hội họa hoành tráng, các yếu 
tố hay cấu trúc có tính chất khảo cổ học, 
bia ký, hang cư trú và các đặc trưng kết 
hợp, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo 
quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học; 
Quần thể các công trình xây dựng: 
Quần thể các công trình xây dựng tách biệt 
hay liên kết lại với nhau, do kiến trúc và 
tính đồng nhất hoặc vị trí của chúng trong 
cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo 
quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học; 
Các di chỉ: các công trình do con 
người tạo nên hoặc có sự kết hợp giữa 
thiên nhiên và nhân tạo, và các khu vực 
trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi 
bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, 
thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng 
học” [1, tr.17]. 
Di sản thế giới đã được UNESCO công 
nhận từ nhiều năm trước, tuy nhiên, cho 
đến cuối năm 2004, Ủy ban Di sản Thế giới 
mới đưa ra 6 tiêu chí cho di sản văn hóa và 
4 tiêu chí cho di sản thiên nhiên. Các tiêu 
chí công nhận Di sản Văn hóa Thế giới: 
“(i) Là một kiệt tác cho thấy thiên tài sáng 
tạo của con người; (ii) Biểu hiện sự giao 
lưu các giá trị của con người, trong một 
thời gian dài hoặc trong một khu vực văn 
hóa của thế giới, về những bước phát triển 
trong kiến trúc, nghệ thuật tượng đài hoặc 
quy hoạch thành phố và thiết kế cảnh quan; 
(iii) Là minh chứng độc đáo hoặc chí ít 
cũng là hiếm có cho truyền thống văn hóa 
hoặc cho một nền văn minh còn đang tồn 
tại hoặc đã mất; (iv) Là một mẫu hình nổi 
bật của một loại công trình xây dựng hoặc 
quần thể kiến trúc hay cảnh quan minh họa 
cho một (các) giai đoạn trong lịch sử nhân 
loại; (v) Là một mẫu hình nổi bật về nơi 
sinh sống truyền thống hoặc sử dụng đất 
đai của con người đại diện cho một (hoặc 
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG Phan Huy Xu và tgk 
67 
nhiều) nền văn hóa, đặc biệt khi nó trở nên 
dễ bị tổn thương do tác động của những 
biến đổi không cưỡng lại được; (v ...  và phát huy giá trị di sản văn hóa 
thế giới: Một trong những định hướng quan 
trọng của du lịch di sản là cần phải gắn chặt 
nó với phát triển cộng đồng (cộng đồng là 
tâm điểm, là linh hồn của di sản). Cộng 
đồng phải được thụ hưởng lợi ích từ các di 
sản. Vẻ đẹp của các công trình kiến trúc, di 
sản văn hóa hàng trăm năm không thể nói 
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG Số 09, Tháng 5 - 2018 
74 
hết nếu con người ở đây không có văn hóa 
và sự thân thiện, khiến du khách không 
muốn quay lại. Phát huy vai trò cộng đồng 
trong phát triển du lịch di sản văn hóa rất 
quan trọng vì: “Trong xu thế hội nhập, toàn 
cầu hóa, việc tạo được sự đồng thuận trong 
cộng đồng để duy trì, gìn giữ và phát triển 
di sản văn hóa lại càng cần thiết hơn bao 
giờ hết. Bởi lẽ, chỉ có sự đồng thuận của 
toàn xã hội mới có thể giúp chúng ta có thái 
độ ứng xử đúng đắn với di sản và tìm ra 
được biện pháp bảo vệ đúng đắn để di sản 
luôn là một phần văn hóa sống của cộng 
đồng” [9, tr.485]. Để phát huy tối ưu giá trị 
di sản văn hóa để di sản không chỉ là di sản 
mà nó còn được đặt trong không gian tồn 
tại của nó là cộng đồng, chúng ta cần gắn 
kết di sản với các hoạt động văn hóa khác 
như đêm rằm phố cổ Hội An, Festival Huế, 
làng nghề, đồ thủ công mỹ nghệ, Nhưng 
trên thực tế, các đối tượng tham gia vào 
hoạt động du lịch (du khách, nhà cung ứng 
dịch vụ du lịch, cộng đồng địa phương, 
quản lý nhà nước) chưa có nhận thức đúng 
và chưa đủ khiến di sản sau khi được xếp 
hạng tiếp tục bị tình trạng khai thác bừa 
bãi, không chăm lo và thiếu biện pháp bảo 
vệ hữu hiệu. 
Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù từ 
các di sản văn hóa thế giới: Khai thác có 
hiệu quả các giá trị di sản văn hóa thế giới 
để phát triển thành những sản phẩm du lịch 
đặc thù có tính cạnh tranh cao nhằm thu hút 
du khách. Phải luôn chú ý nâng cao chất 
lượng sản phẩm du lịch di sản bằng đầu tư 
khoa học, công nghệ, nhân lực chất lượng 
cao để phát huy giá trị của chúng trong du 
lịch. Có thể kể đến một số di sản văn hóa 
vật thể và phi vật thể đang được khai thác 
khá hiệu quả như Đô thị Hội An, Quần thể 
di tích cố đô Huế, Thánh địa Mỹ Sơn, Danh 
thắng Tràng An, Không gian văn hóa cồng 
chiêng Tây Nguyên, Nhã nhạc cung đình 
Huế (tên được UNESCO công nhận là Nhã 
nhạc cung đình Việt Nam), Nghệ thuật Đờn 
ca Tài tử Nam Bộ,... Chúng tôi có hỏi thăm 
một số du khách đến Việt Nam và được họ 
cho biết, Việt Nam nổi tiếng với vịnh Hạ 
Long và một số di sản văn hóa nói trên. Khi 
chúng tôi giới thiệu ở Việt Nam có đến 27 
di sản thế giới được UNESCO công nhận 
thì du khách quốc tế lấy làm ngạc nhiên và 
thích thú vì họ không biết Việt Nam có 
nhiều di sản văn hóa được UNESCO công 
nhận đến như vậy. Tình hình nêu trên phần 
nào cho thấy ngành du lịch Việt Nam chưa 
làm tốt công tác quảng bá các di sản thế 
giới đến du khách quốc tế. Số liệu công 
trình của Michael Hitchcock, Victor T. 
King and Michael Parnwell xuất bản năm 
2010, dẫn lại tư liệu của UNESCO World 
Cultural and Natural Heritage sites in 
Southeast Asia (2008) cho thấy, so với các 
nước Đông Nam Á khác, Việt Nam có khá 
nhiều di sản, xếp sau Indonesia và Thái 
Lan, ngang bằng Philippines và xếp trên 
Malaysia, Lào và Campuchia [3, tr.8-9]. 
Tình hình trên cho thấy, sản phẩm du lịch 
di sản thế giới của Việt Nam cũng bị cạnh 
tranh gay gắt với các nước trong khu vực. 
Do đó, việc tạo ra các sản phẩm du lịch di sản 
tốt có khả năng cạnh tranh với các nước khác 
trong khu vực ASEAN là điều quan trọng. 
Ứng dụng công nghệ mới vào quảng 
bá và bảo vệ di sản: Di sản văn hóa cũng 
cần đến việc bảo tồn tốt như công việc 
trùng tu, tôn tạo cần phải giữ được nguyên 
bản, tránh tình trạng sau khi trùng tu, tôn 
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG Phan Huy Xu và tgk 
75 
tạo, di sản biến thành một công trình hoàn 
toàn mới, mất đi toàn bộ giá trị lịch sử - 
văn hóa kết tinh trong di sản. Song song 
với công việc trên, trong thời đại công 
nghiệp 4.0, chúng ta hoàn toàn có thể bảo 
tồn di sản văn hóa bằng công nghệ cao như 
ứng dụng công nghệ để số hóa các di sản, 
số hóa các cổ vật bằng công nghệ 3D, 4D, 
ứng dụng công nghệ thông tin vào bảo vệ 
di sản (dự án số hóa) nhằm giữ lại và số 
hóa hiện vật. Du khách có thể tham quan ảo 
Nhà hát lớn (du khách thấy rất rõ, đẹp mà 
miễn phí để quảng bá du lịch). Khu trưng 
bày khảo cổ dưới lòng Tòa nhà Quốc hội 
(thuộc Khu di tích trung tâm Hoàng thành 
Thăng Long - Hà Nội) được xem là bảo 
tàng khảo cổ học đầu tiên ở Việt Nam với 
một không gian chứa đựng nhiều di chỉ, di 
tích khảo cổ và ứng dụng công nghệ cao 
làm cho người xem thấy ánh sáng, hình 
ảnh, tiếng nhạc quyện vào nhau. Như vậy, 
bảo tàng trong thời toàn cầu hóa và hội 
nhập quốc tế vừa có chức năng khoa học và 
vừa là nghệ thuật và quan trọng hơn nữa là 
giá trị khảo cổ được đưa đến gần công 
chúng hơn. 
Quảng bá sản phẩm du lịch di sản văn 
hóa thế giới cũng rất cần thiết để đưa thông 
tin, sản phẩm đến với du khách tiềm năng. 
Trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập 
quốc tế, quảng bá sản phẩm là một khâu 
quan trọng trong quá trình sản xuất và tiêu 
thụ hàng hóa, đặc biệt, du lịch là một dạng 
hàng hóa đặc biệt, vừa mang tính lợi nhuận 
của kinh tế, vừa mang những giá trị văn 
hóa đặc thù của quốc gia - dân tộc. Do đó, 
mỗi quốc gia - dân tộc đều có thể quảng bá 
sản phẩm du lịch của họ theo những cách 
khác nhau, tùy theo đặc thù của quốc gia. 
Trong thời gian qua, ngành Du lịch Việt 
Nam chưa thực sự đầu tư nhiều cho công tác 
quảng bá sản phẩm du lịch ở nước ngoài. 
Tăng cường quản lý nhà nước các cấp 
đối với di sản văn hóa thế giới cũng là giải 
pháp quan trọng đối với việc bảo tồn, phát 
huy giá trị của các di sản văn hóa thế giới 
tại các điểm đến. Quản lý nhà nước cấp địa 
phương sẽ giám sát quá trình khai thác các 
di sản, kịp thời phát hiện những sự cố, bất 
lợi đối với di sản để phối hợp với các cơ 
quan chức năng, cấp quản lý cao hơn nhằm 
bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản 
trong du lịch. Phải có quy hoạch, kế hoạch, 
quản lý hiệu quả, đầu tư thực hiện đúng 
cam kết với thế giới. Giáo dục, răn đe và xử 
lý nghiêm các hành vi xâm hại di sản, hạn 
chế những tác động tiêu cực của con người 
đến môi trường và cảnh quan xung quanh 
di sản. 
Tăng cường giáo dục ý thức bảo vệ di 
sản văn hóa thế giới nhằm tránh tình trạng 
“ăn xổi ở thì” trong cách làm du lịch ở một 
số địa phương, sinh ra hiện tượng tiêu cực 
tác động xấu đến di sản văn hóa. Phải bảo 
tồn để di sản không bị kiệt quệ, tuyệt đối 
không xâm hại di sản và góp phần nâng giá 
trị di sản. 
Du lịch chỉ có thể phát triển bền vững 
trên cơ sở khai thác các giá trị tài nguyên 
du lịch là tài nguyên văn hóa, tạo ra nhiều 
sản phẩm du lịch hấp dẫn, khác biệt, có khả 
năng cạnh tranh trong các vùng miền và thế 
giới. Du lịch còn có vai trò trong việc bảo 
tồn, phát huy giá trị của di sản một cách có 
hiệu quả. Du lịch làm cho du khách và thế 
giới biết, trải nghiệm, cảm nhận về giá trị 
của di sản văn hóa Việt Nam. Du lịch cung 
cấp kinh phí để bảo tồn, phát huy di sản. 
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG Số 09, Tháng 5 - 2018 
76 
Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ du 
lịch di sản văn hóa thế giới: Để di sản văn 
hóa thế giới phát huy tối ưu giá trị, chúng ta 
cũng cần đến một đội ngũ cán bộ làm công 
tác du lịch di sản, đặc biệt là đội ngũ hướng 
dẫn viên du lịch di sản từ kiến thức, kỹ 
năng, thái độ và ngoại ngữ. Khi du khách 
mua các chương trình tham quan các di sản 
văn hóa, họ mong muốn các nhà cung cấp 
dịch vụ du lịch cung cấp cho họ những 
thông tin tốt nhất về các di sản văn hóa để 
họ thấu hiểu các giá trị của di sản văn hóa. 
Trong bài viết, chúng tôi cũng đề xuất 
một số ý kiến nhằm khai thác các sản phẩm 
du lịch độc đáo, đặc sắc từ chất liệu là các 
di sản văn hóa sẵn có một cách tốt hơn, 
hiệu quả hơn. Chúng ta bắt đầu bằng việc 
nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của các 
di sản văn hóa và việc khai thác chúng để 
có những hành động thành công. Chúng tôi 
luôn trăn trở làm sao đưa giá trị đích thực 
của các di sản văn hóa đến với du khách để 
họ thực sự cảm nhận, trải nghiệm đây là 
những kiệt tác văn hóa của nhân loại hiện 
hữu trên đất nước Việt Nam được sáng tạo 
ra bởi các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ 
Việt Nam mang hình dáng chữ S. Điều này 
rất phù hợp với Hiến chương Quốc tế về 
Du lịch Văn hóa đã nêu ở nguyên tắc số 3: 
“Các chương trình bảo tồn và du lịch cần 
giới thiệu những thông tin chất lượng cao 
để làm du khách hiểu tối đa những đặc 
điểm quan trọng của di sản và sự cần thiết 
phải bảo vệ chúng, để làm cho du khách 
thích thú địa điểm một cách thích đáng” [1, 
tr.129]. Như vậy, cần làm cho khách hiểu 
tối đa những đặc điểm quan trọng của di 
sản văn hóa và sự cần thiết bảo vệ chúng để 
chính bản thân các di sản văn hóa có thể 
được bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá 
trị vốn có của nó mới là điều quan trọng 
nhất. Để làm được điều này, chúng tôi thiết 
nghĩ phải có sự hợp tác hài hòa về trách 
nhiệm và lợi ích giữa các nhà quản lý di 
sản (tài nguyên du lịch), các công ty lữ 
hành (môi giới khai thác các di sản), nguồn 
nhân lực du lịch chất lượng cao có năng lực 
khai thác giá trị di sản văn hóa và khách du 
lịch (đối với khách du lịch quốc tế). 
3. KẾT LUẬN 
Với 27 Di sản Thế giới được UNESCO 
công nhận dưới nhiều danh hiệu, trong đó 
có đến 24 Di sản Văn hóa Thế giới là một 
con số đáng tự hào của Việt Nam. Đó thật 
sự là tài sản đẳng cấp hạng nhất của nhân 
loại và du lịch Việt Nam đang đứng trước 
cơ hội tạo ra sản phẩm đặc thù và khác biệt 
nhằm thu hút hơn nữa du khách quốc tế. Do 
đó, có thể nói rằng du lịch di sản thế giới sẽ 
là một trong những hướng phát triển chủ 
yếu của Việt Nam, tuy nhiên hiện nay du 
lịch di sản vẫn chưa được khai thác tốt và 
chưa đóng góp xứng tầm trong cơ cấu sản 
phẩm du lịch và vẫn chưa trở thành một sản 
phẩm đặc thù của du lịch Việt Nam để mỗi 
khi du khách nhắc đến Việt Nam là nhớ 
đến các di sản thế giới và tên tuổi của Việt 
Nam gắn liền với các di sản này. Đi liền 
với thực trạng bảo tồn và khai thác các di 
sản văn hóa thế giới trong du lịch là các 
giải pháp thiết thực có liên quan như nhận 
thức tầm quan trọng của các di sản, cử 
người đi học tập kinh nghiệm quản lý và 
khai thác của các nước có nhiều di sản thế 
giới, ứng dụng công nghệ mới vào quản lý 
và khai thác các di sản, đào tạo nguồn 
nhân lực khai thác du lịch di sản, đặc 
biệt là các đối tượng tham gia vào hoạt 
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG Phan Huy Xu và tgk 
77 
động du lịch như du khách, nhà cung ứng 
dịch vụ du lịch, cộng đồng địa phương, 
quản lý nhà nước các cấp về di sản cũng 
như những giải pháp về tăng cường quảng 
bá sản phẩm du lịch di sản ra thế giới. 
Di sản văn hóa thế giới thực sự là sức 
mạnh mềm của một quốc gia - dân tộc. Hơn 
thế nữa, chính hoạt động du lịch góp phần 
bảo tồn, duy trì lâu bền những giá trị văn 
hóa đang dần mai một hoặc bị phá hủy bởi 
thời gian. Hơn thế nữa, du lịch di sản là 
một trong những công cụ hữu hiệu để 
quảng bá hình ảnh văn hóa Việt Nam với 
thế giới. Hoạt động du lịch sẽ góp phần 
giới thiệu giá trị về nền văn hóa độc đáo 
của Việt Nam qua mấy nghìn năm văn 
hiến, thông qua xúc tiến du lịch, tổ chức tạo 
ra sản phẩm phục vụ khách và tổ chức các 
chương trình du lịch. 
Những di sản văn hóa thế giới của 
nước ta vừa kể trên là xứng tầm hạng nhất 
của nhân loại. Quan điểm về lợi thế, về tài 
nguyên du lịch của Việt Nam trong bối 
cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cần 
phải thay đổi căn bản về nhận thức, quản lý 
di sản và phải coi đây là tài sản của nhân 
loại, không phải của riêng Việt Nam 
(nhưng do Việt Nam bảo tồn, phát huy và 
khai thác). Nhân loại có quyền được tiếp 
cận, tận hưởng tài nguyên đó và có trách 
nhiệm với chúng. Bằng cách nào đó, chúng 
ta phải góp sức biến những tiềm năng đó 
thành lợi ích hiện thực của nhân dân Việt 
Nam và nhân loại, ở cấp độ xứng với tầm 
“hạng nhất thế giới”. Bài viết này góp thêm 
tiếng nói để một ngày sắp tới, ngành Du 
lịch Việt Nam thực sự trở thành ngành kinh 
tế mũi nhọn. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
[1] Arthur Pederson (2002), Tài liệu hướng dẫn về di sản Thế giới (bản dịch tiếng Việt của 
Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam). 
[2] Bộ Chính trị (2017), Nghị quyết số 08 - NQ/TW, về phát triển du lịch trở thành ngành 
kinh tế mũi nhọn. 
[3] Michael Hitchcock, Victor T. King and Michael Parnwell (eds, 2010), Heritage tourism 
in Southeast Asia, Nias Press. 
[4] Nguyễn Văn Kim (Chủ biên, 2016), Tiếp biến và hội nhập văn hóa ở Việt Nam, Nxb 
Đại học Quốc gia Hà Nội. 
[5] Phạm Trung Lương (Chủ biên, 2000), Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam, Nxb 
Giáo dục. 
[6] Phong Chương (2014), Xây dựng chiến lược quảng bá di sản thế giới tại Việt Nam, 
https://baomoi.com. 
[7] Thảo Nguyên (2018), Phát triển bền vững giá trị di sản thế giới ở Việt Nam, 
[8] Thủy Mai (2015), Phát triển hài hòa giữa du lịch và di sản văn hóa, 
https://baotintuc.vn/du-lich. 
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG Số 09, Tháng 5 - 2018 
78 
[9] Trần Thị Lam Thủy (2017), Bàn về vấn đề di sản văn hóa và việc bảo tồn các di sản 
văn hóa trong thời kỳ hội nhập (xét trường hợp văn hóa phi vật thể Ví, Giặm xứ Nghệ), in 
trong Quản lý và khai thác di sản văn hóa trong thời kỳ hội nhập, Nxb Đại học Quốc gia 
Thành phố Hồ Chí Minh. 
[10] UNESCO (2003), Công ước về bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể (Bản dịch của Trần 
Hải Vân; Ủy ban Quốc gia UNESCO của Việt Nam hiệu đính). 
[11] UNESCO (2004), The Criteria for Selection,  
[12] UNESCO & ICH (2004), What is Intangible Cultural Heritage?, https://ich.unesco.org. 
[13] Yên Nga (2017), Khai thác di sản văn hóa và thiên nhiên trong du lịch: Cần ứng xử 
có trách nhiệm, Hà Nội Mới, truy cập 10-01-2018. 
[14] 
xam-hai-nghiem-trong-434050.html. 
Ngày nhận bài: 26-02-2018. Ngày biên tập xong: 12-4-2018. Duyệt đăng: 19-5-2018. 

File đính kèm:

  • pdfdi_san_van_hoa_the_gioi_o_viet_nam_voi_phat_trien_du_lich.pdf