Hướng dẫn nhận dạng để lựa chọn vẽ biểu đồ thích hợp trong dạy học Địa lí

Sách giáo khoa Địa lí phổ thông được chọn lọc từ khối lượng tri thức đồ sộ của khoa học Địa lí, sắp xếp theo

lôgic khoa học và lôgic sư phạm, đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn, tính giáo dục, tính phổ thông của chương

trình. Cùng với chương trình đổi mới hiện nay, sách giáo khoa Địa lí cũng có nhiều thay đổi nhằm phù hợp với

phương pháp dạy học mới “lấy học sinh làm trung tâm”. Chính vì vậy mà số lượng bài thực hành của sách giáo khoa

Địa lí hiện nay đã tăng lên đáng kể. Qua quá trình giảng dạy, chúng tôi nhận thấy đa số sinh viên, học sinh phần kỹ

năng vẽ biểu đồ còn rất yếu. Tuy nhiên, đối với một bài thi hay bài kiểm tra thông thường thì thực hành (vẽ biểu đồ)

chiếm 30% tổng số điểm và đa số các sinh viên, sinh viên không đạt điểm trọn vẹn ở phần này. Bài viết này, chúng tôi

tiến hành phân tích các trường hợp và đưa ra cách nhận dạng để lựa chọn vẽ biểu đồ thích hợp nhất, giúp các sinh

viên, học sinh rèn luyện kĩ năng vẽ biểu đồ để kết quả học tập được nâng lên và thêm yêu thích môn học Địa lí hơn

Hướng dẫn nhận dạng để lựa chọn vẽ biểu đồ thích hợp trong dạy học Địa lí trang 1

Trang 1

Hướng dẫn nhận dạng để lựa chọn vẽ biểu đồ thích hợp trong dạy học Địa lí trang 2

Trang 2

Hướng dẫn nhận dạng để lựa chọn vẽ biểu đồ thích hợp trong dạy học Địa lí trang 3

Trang 3

Hướng dẫn nhận dạng để lựa chọn vẽ biểu đồ thích hợp trong dạy học Địa lí trang 4

Trang 4

Hướng dẫn nhận dạng để lựa chọn vẽ biểu đồ thích hợp trong dạy học Địa lí trang 5

Trang 5

Hướng dẫn nhận dạng để lựa chọn vẽ biểu đồ thích hợp trong dạy học Địa lí trang 6

Trang 6

Hướng dẫn nhận dạng để lựa chọn vẽ biểu đồ thích hợp trong dạy học Địa lí trang 7

Trang 7

Hướng dẫn nhận dạng để lựa chọn vẽ biểu đồ thích hợp trong dạy học Địa lí trang 8

Trang 8

Hướng dẫn nhận dạng để lựa chọn vẽ biểu đồ thích hợp trong dạy học Địa lí trang 9

Trang 9

pdf 9 trang viethung 29/12/2021 120
Bạn đang xem tài liệu "Hướng dẫn nhận dạng để lựa chọn vẽ biểu đồ thích hợp trong dạy học Địa lí", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hướng dẫn nhận dạng để lựa chọn vẽ biểu đồ thích hợp trong dạy học Địa lí

Hướng dẫn nhận dạng để lựa chọn vẽ biểu đồ thích hợp trong dạy học Địa lí
UED JOURNAL OF SOCIAL SCIENCES, HUMANITIES AND EDUCATION VOL.4, NO.3 (2014) 
118 
HƯỚNG DẪN NHẬN DẠNG ĐỂ LỰA CHỌN VẼ BIỂU ĐỒ THÍCH HỢP 
TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 
GUIDANCE ON THE IDENTIFICATION AND SELECTION OF DRAWING APPROPRIATE 
CHARTS IN TEACHING GEOGRAPHY 
Nguyễn Thanh Tưởng 
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng 
Email:nguyenthanhtuongdn@yahoo.com 
TÓM TẮT 
Sách giáo khoa Địa lí phổ thông được chọn lọc từ khối lượng tri thức đồ sộ của khoa học Địa lí, sắp xếp theo 
lôgic khoa học và lôgic sư phạm, đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn, tính giáo dục, tính phổ thông của chương 
trình. Cùng với chương trình đổi mới hiện nay, sách giáo khoa Địa lí cũng có nhiều thay đổi nhằm phù hợp với 
phương pháp dạy học mới “lấy học sinh làm trung tâm”. Chính vì vậy mà số lượng bài thực hành của sách giáo khoa 
Địa lí hiện nay đã tăng lên đáng kể. Qua quá trình giảng dạy, chúng tôi nhận thấy đa số sinh viên, học sinh phần kỹ 
năng vẽ biểu đồ còn rất yếu. Tuy nhiên, đối với một bài thi hay bài kiểm tra thông thường thì thực hành (vẽ biểu đồ) 
chiếm 30% tổng số điểm và đa số các sinh viên, sinh viên không đạt điểm trọn vẹn ở phần này. Bài viết này, chúng tôi 
tiến hành phân tích các trường hợp và đưa ra cách nhận dạng để lựa chọn vẽ biểu đồ thích hợp nhất, giúp các sinh 
viên, học sinh rèn luyện kĩ năng vẽ biểu đồ để kết quả học tập được nâng lên và thêm yêu thích môn học Địa lí hơn. 
Từ khóa: kỹ năng vẽ biểu đồ; vẽ biểu đồ; Địa lí; sách giáo khoa Địa lí; rèn luyện kĩ năng. 
ABSTRACT 
Geography textbooks are a collection of knowledge of geographic science arranged in a scientific logic and 
pedagogical logic order, which ensures scientific, practical, educational and comprehensive features of the program. 
In the period of educational reform, geography textbooks also have changes to adapt to the new teaching method, 
"student-centered approach". Therefore, the number of exercises in Geography textbooks has significantly increased. 
Through the teaching process, it has been found that most students are not good at drawing a chart. However, the 
score of drawing a chart in a test or an exam accounts for 30 percent of the total score and most students do not 
achieve the perfect score in this part. This paper analyzes some cases and shows how to identify and draw a proper 
chart in order to encourage students to improve the skill at drawing a chart and to be interested in geography. 
Key words: skill at drawing a chart; drawing a chart; geography; geography textbooks; practicing skills. 
1. Đặt vấn đề 
Trong Sách giáo khoa Địa lí 12 THPT – Ban 
cơ bản, số lượng các biểu đồ, các bài tập liên quan 
đến biểu đồ chiếm một tỉ lệ khá lớn. Trong các đề 
thi, kiểm tra địa lí 12 (từ kiểm tra thường xuyên, 
kiểm tra định kì đến các kì thi tốt nghiệp, cao 
đẳng, đại học hay các kì thi học sinh giỏi các cấp), 
nội dung các câu hỏi liên quan đến biểu đồ chiếm 
một phần quan trọng. Trước tình hình đổi mới nội 
dung và yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, 
trước những vai trò quan trọng của việc rèn luyện 
kĩ năng vẽ biểu đồ, việc hướng dẫn nhận dạng để 
lựa chọn vẽ biểu đồ thích hợp trong dạy học Địa lí 
là việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa khoa 
học. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ 
tiến hành phân tích các trường hợp và đưa ra cách 
nhận dạng để lựa chọn vẽ biểu đồ thích hợp nhất, 
không hướng dẫn từng bước cách vẽ và trình bày 
biểu đồ. 
2. Nội dung nghiên cứu 
2.1. Nguyên tắc chung khi vẽ biểu đồ 
- Khi vẽ bất cứ loại biểu đồ nào, cũng phải 
đảm bảo được 3 nguyên tắc sau: Tính khoa học, 
tính trực quan và tính thẩm mỹ. 
- Để đảm bảo tính khoa học, tính trực quan 
và tính thẫm mỹ, khi vẽ biểu đồ cần phải đúng, 
chính xác và cần dùng kí hiệu để phân biệt các đối 
tượng trên biểu đồ. Lưu ý khi chọn kí hiệu cho 
biểu đồ làm sao để biểu đồ vừa dễ đọc, vừa đẹp. 
2.2. Phân loại biểu đồ 
- Biểu đồ cột: Là biểu đồ sử dụng để chỉ sự 
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC TẬP 4, SỐ 3 (2014) 
119 
khác biệt về quy mô khối lượng của một hay một 
số đối tượng địa lí hoặc sử dụng để thực hiện 
tương quan về độ lớn giữa các đại lượng. 
- Biểu đồ dạng đường (biểu đồ đồ thị, biểu 
đồ đường biểu diễn): Đồ thị hay còn gọi là đường 
biểu diễn hoặc biểu đồ dạng đường là dạng biểu đồ 
dùng để thể hiện tiến trình phát triển, sự biến thiên 
của các đối tượng qua thời gian. 
- Biểu đồ kết hợp: Các đối tượng được thể 
hiện trong biểu đồ kết hợp thường có quan hệ nhất 
định với nhau vì vậy khi chọn tỉ lệ cho mỗi đối 
tượng cần chú ý làm sao cho biểu đồ cột và đường 
biểu diễn không tách rời xa nhau thành 2 khối 
riêng biệt. 
- Biểu đồ tròn: Thường dùng để biểu diễn 
cơ cấu thành phần của 1 tổng thể và qui mô của 
đối tượng cần trình bày. Chỉ được thực hiện khi 
giá trị của các đại lượng được tính bằng %. 
- Biểu đồ miền (biểu đồ diện): Loại biểu đồ 
này thể hiện được cả cơ cấu và động thái phát triển 
của các đối tượng. Toàn bộ biểu đồ là 1 hình chữ 
nhật (hoặc hình vuông), trong đó được chia thành 
các miền khác nhau. 
2.3. Phân tích các trường hợp và đưa ra cách 
nhận dạng để lựa chọn vẽ biểu đồ thích hợp 
nhất [1,2,3,4] 
2.3.1. Trường hợp 1 
Trường hợp với một bảng số liệu vừa có thể 
vẽ được biểu đồ cột chồng và biểu đồ miền, thì trong 
trường hợp nếu chỉ có từ 2 – 4 năm thì vẽ biểu đồ 
cột chồng, nếu nhiều năm (từ 5 năm trở lên) thì vẽ 
biểu đồ miền hợp lý hơn vì tính trực quan tốt hơn. 
- Ví dụ có bảng số liệu: 
Bảng 1. Cơ cấu dân số phân theo thành thị và nông thôn 
 giai đoạn 1990 – 2005 (Đơn vị: %) 
Năm Thành thị Nông thôn 
1990 19.5 80.5 
1995 20.8 79.2 
2000 25.8 74.2 
2005 26.9 73.1 
- Yêu cầu: Hãy vẽ biểu đồ thể hiện sự thay 
đổi tỷ trọng dân số phân theo thành thị và nông 
thôn giai đoạn 1990 – 2005. 
- Nhận dạng: Đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ thể 
hiện sự thay đổi tỷ trọng của các đối tượng trong 
một tổng thể. Trường hợp này, chúng ta có thể vẽ 
được biểu đồ cột chồng hoặc biểu đồ m ... cùng đơn vị 
(nghìn ha) qua một số năm (5 năm). 
Hình 3. Biểu đồ thể hiện sự biến động diện tích cây 
công nghiệp hàng năm và lâu năm ở nước ta giai đoạn 
1985 – 2005 
2.3.4. Trường hợp 4 
Trường hợp nếu bảng số liệu ít năm (từ 2 – 
4 năm), yêu cầu so sánh quy mô của sự phát triển 
thì vẽ biểu đồ cột. 
- Ví dụ có bảng số liệu: 
Bảng 4. Bình quân lương thực có hạt theo đầu người 
của cả nước, đồng bằng Sông Hồng, đồng bằng sông 
Cửu Long năm 1995, 2000, 2005 (Đơn vị: Kg/người) 
Năm 1995 2000 2005 
Cả nước 363 445 476 
Đồng bằng Sông Hồng 331 403 362 
Đồng bằng sông Cửu Long 832 1025 1124 
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC TẬP 4, SỐ 3 (2014) 
121 
- Yêu cầu: Hãy vẽ biểu đồ so sánh bình quân 
lương thực có hạt theo đầu người của cả nước, 
đồng bằng Sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long 
năm 1995, 2000, 2005. 
Hình 4. Biểu đồ so sánh bình quân lương thực có hạt 
theo đầu người của cả nước, đồng bằng Sông Hồng, 
đồng bằng sông Cửu Long năm 1995, 2000, 2005 
- Nhận dạng: Đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ so 
sánh quy mô sự phát triển của các đối tượng. Trường 
hợp này, bảng số liệu cho 3 năm thì ta chọn vẽ biểu 
đồ hình cột. 
- Lý do chọn vẽ biểu đồ hình cột: Vẽ biểu đồ 
hình cột là thích hợp nhất vì tính trực quan tốt hơn 
khi so sánh quy mô sự phát triển bình quân lương 
thực có hạt theo đầu người của cả nước, đồng bằng 
Sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long với số năm 
ít (2 - 4 năm). 
2.3.5. Trường hợp 5 
Trường hợp nếu bảng số liệu nhiều năm 
(trên 4 năm), yêu cầu thể hiện tốc độ phát triển thì 
vẽ biểu đồ đường thích hợp hơn. 
- Ví dụ có bảng số liệu: 
Bảng 5. Số lượng đàn gia súc ở nước ta 
giai đoạn 1980 -2005 (Đơn vị: nghìn con) 
Năm Trâu Bò Lợn 
1980 2300 1700 10000 
1985 2600 2592 11800 
1990 2854 3117 12260 
1995 2963 3639 16306 
2000 2897 4128 20194 
2005 2922 5541 27345 
- Yêu cầu: Hãy vẽ biểu đồ thể hiện tốc độ phát 
triển đàn gia súc ở nước ta giai đoạn 1980 – 2005. 
- Nhận dạng: Đề bài yêu cầu vẽ biểu thể 
hiện tốc độ phát triển của các đối tượng. Trường 
hợp này, bảng số liệu cho 6 năm thì ta chọn vẽ 
biểu đồ đường. 
- Lý do chọn vẽ biểu đồ đường: Vẽ biểu đồ 
đường là thích hợp nhất vì tính trực quan tốt hơn 
khi thể hiện tốc độ phát triển của các đối tượng 
trâu, bò, lợn với số năm nhiều (trên 4 năm). 
Xử lý số liệu: Do đây là bảng số liệu tính 
theo giá trị tuyệt đối nên trước khi vẽ cần phải xử 
lý số liệu, chuyển số liệu tuyệt đối sang số liệu 
tương đối (%). Cho năm đầu tiên bằng 100%. Tất 
cả các đại lượng thể hiện đều bắt đầu trên trục tung 
với giá trị là 100%. 
Ta có bảng số liệu như sau: Tốc độ phát 
triển đàn gia súc ở nước ta giai đoạn 1980 – 2005 
(Đơn vị: %). 
Bảng 6. Tốc độ phát triển đàn gia súc ở nước ta 
giai đoạn 1980-2005 
Năm Trâu Bò Lợn 
1980 100 100 100 
1985 113 152.5 118 
1990 124.1 183.4 122.6 
1995 128.8 214.1 163.1 
2000 126 242.8 201.9 
2005 127 325.9 274.4 
UED JOURNAL OF SOCIAL SCIENCES, HUMANITIES AND EDUCATION VOL.4, NO.3 (2014) 
122 
Hình 5. Biểu đồ thể hiện tốc độ phát triển đàn gia súc ở 
nước ta giai đoạn 1980-2005 
2.3.6. Trường hợp 6 
Nếu bảng số liệu có 3 đối tượng, trong đó có 
2 đối tượng có mối quan hệ với nhau và yêu cầu 
phải thể hiện 3 đại lượng trên cùng một hệ trục tọa 
độ, thì chọn biểu đồ kết hợp. Trong đó, 2 đối 
tượng có mối quan hệ thì vẽ cột chồng, đối tượng 
còn lại vẽ đường. 
- Ví dụ có bảng số liệu: 
Bảng 7. Tình hình phát triển dân số của Việt Nam 
trong giai đoạn 1995-2003 
Năm Dân số 
thành thị 
(nghìn 
người) 
Dân số 
nông thôn 
(nghìn 
người) 
Tốc độ 
gia tăng 
dân số 
(%) 
1995 14938.1 57057.4 1.65 
1997 17464.6 57991.7 1.55 
1999 18771.9 58863.5 1.26 
2001 19469.3 59216.5 1.25 
2003 20869.5 60032.9 1.47 
- Yêu cầu: Hãy vẽ biểu đồ thể hiện tình hình 
phát triển dân số nước ta giai đoạn 1995 – 2003 
- Nhận dạng: Đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ thể 
hiện tình hình phát triển của 3 đối tượng, trong đó 
có 2 đối tượng có mối quan hệ với nhau. Nên ta 
chọn vẽ biểu đồ cột chồng và đường. 
Hình 6. Biểu đồ thể hiện tình hình phát triển dân số 
nước ta giai đoạn 1995-2003 
- Lý do chọn vẽ biểu đồ cột chồng và đường: 
Vẽ biểu đồ cột chồng và đường là thích hợp nhất 
vì tính trực quan tốt hơn khi thể hiện tình hình phát 
triển của 3 đối tượng: Dân số thành thị (nghìn 
người), dân số nông thôn (nghìn người) và tốc độ 
gia tăng dân số (%), trong đó có 2 đối tượng có 
mối quan hệ với nhau là dân số thành thị (nghìn 
người) và dân số nông thôn (nghìn người). Đại 
lượng dân số thành thị (nghìn người) và dân số 
nông thôn (nghìn người) thì vẽ cột chồng, còn đại 
lượng tốc độ gia tăng dân số (%) vẽ đường. 
2.3.7. Trường hợp 7 
 Trong trường hợp yêu cầu thể hiện 2 đối 
tượng nhưng đều là cơ cấu từ 2 năm trở lên thì vẽ 
biểu đồ kết hợp giữa cột và tròn. 
- Ví dụ có bảng số liệu: 
Bảng 8. Cơ cấu diện tích, sản lượng lúa ở Đồng bằng Sông 
Hồng và đồng bằng sông Cửu Long năm 1985 và 2005 
- Yêu cầu: Vẽ biểu đồ thể hiện cơ cấu diện 
tích và sản lượng lúa ở Đồng bằng Sông Hồng và 
đồng bằng sông Cửu Long năm 1985 và 2005. 
- Nhận dạng: Đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ thể 
hiện cơ cấu của 2 đối tượng, với số liệu có 2 năm 
và có 2 giá trị khác nhau, vì vậy chọn vẽ biểu đồ 
kết hợp giữa cột và tròn. 
- Lý do chọn vẽ biểu đồ cột và tròn: Vẽ biểu 
đồ cột và tròn là thích hợp nhất vì tính trực quan 
tốt hơn khi thể hiện cơ cấu của 2 đối tượng là đồng 
bằng Sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, 
với số liệu có 2 năm và có 2 giá trị khác nhau là 
diện tích và sản lượng. 
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC TẬP 4, SỐ 3 (2014) 
123 
Hình 7. Biểu đồ thể hiện cơ cấu diện tích và sản lượng 
lúa ở Đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng sông Cửu 
Long năm 1985 và 2005. 
2.3.8. Trường hợp 8 
 Trong trường hợp có 2 đại lượng có mối 
quan hệ với nhau như diện tích và sản lượng, yêu 
cầu thể hiện trên cùng một biểu đồ, nên chọn và vẽ 
biểu đồ kết hợp. Diện tích thể hiện bằng hình cột, 
sản lượng thể hiện bằng biểu đồ đường. 
 - Ví dụ có bảng số liệu: 
Bảng 9. Diện tích và sản lượng chè ở nước ta giai đoạn 
1991 – 2006 
Năm 
Chè 
Diện tích 
(nghìn ha) 
Sản lượng 
(nghìn tấn) 
1991 60 145.1 
1994 67.3 189.2 
1997 78.6 235.0 
2000 87.7 314.7 
2003 116.3 448.6 
2006 118.4 534.2 
- Yêu cầu: Vẽ biểu đồ thể hiện tình hình 
phát triển cây chè ở nước ta giai đoạn 1991-2006 
- Nhận dạng: Đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ thể 
hiện tình hình phát triển của một đối tượng có 2 
đại lượng có mối quan hệ với nhau nhưng khác 
nhau về đơn vị, vì vậy chọn vẽ biểu đồ kết hợp 
(cột và đường). 
- Lý do chọn vẽ biểu đồ cột và đường: Vẽ biểu 
đồ cột và đường là thích hợp nhất vì tính trực quan tốt 
hơn khi thể hiện tình hình phát triển cây chè, có 2 đại 
lượng có mối quan hệ với nhau nhưng khác nhau về 
đơn vị là diện tích (nghìn ha) và sản lượng (nghìn tấn). 
Diện tích thể hiện bằng hình cột, sản lượng thể hiện 
bằng biểu đồ đường. 
Hình 8. Biểu đồ thể hiện tình hình phát triển cây chè 
ở nước ta giai đoạn 1991 – 2006 
2.3.9. Trường hợp 9 
Trong trường hợp thể hiện 3 đại lượng có 
mối quan hệ với nhau, trong đó 1 đại lượng là hiệu 
số của 2 đại lượng kia thì vẽ biểu đồ miền theo giá 
trị tuyệt đối. 
- Ví dụ có bảng số liệu: 
Bảng 10. Tỉ suất sinh, tỉ suất tử ở nước ta giai đoạn 
1960 – 2005 (Đơn vị: %o) 
Năm Tỉ suất 
sinh 
Tỉ suất 
tử 
Năm Tỉ suất 
sinh 
Tỉ suất 
tử 
1960 46.0 12.0 1985 28.4 6.9 
1965 37.8 6.7 1990 31.3 8.4 
1970 34.6 6.6 1995 28.5 6.7 
1975 39.5 7.5 2000 23.6 7.3 
1980 32.2 7.2 2005 19.0 5.0 
- Yêu cầu: Vẽ biểu đồ thích hợp thể hiện tỉ 
suất sinh, tỉ suất tử và tỉ suất gia tăng dân số tự 
nhiên ở nước ta giai đoạn 1960 – 2005 
- Nhận dạng: Đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ 
thích hợp thể hiện 3 đại lượng có mối quan hệ với 
nhau, trong đó 1 đại lượng là hiệu số của 2 đại 
lượng kia, vì vậy ta chọn vẽ biểu đồ miền theo giá 
trị tuyệt đối. 
- Lý do chọn vẽ biểu đồ miền theo giá trị 
tuyệt đối: Vẽ biểu đồ miền theo giá trị tuyệt đối là 
thích hợp nhất vì tính trực quan tốt hơn khi thể 
hiện 3 đại lượng có mối quan hệ với nhau, tuy 
nhiên có 1 đại lượng không được thể hiện ra ở đây 
UED JOURNAL OF SOCIAL SCIENCES, HUMANITIES AND EDUCATION VOL.4, NO.3 (2014) 
124 
là tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên, nhưng nó là hiệu 
số của 2 đại lượng tỉ suất sinh và tỉ suất tử. 
Hình 9. Biểu đồ thể hiện tỉ suất sinh, tỉ suất tử và tỉ suất 
gia tăng dân số tự nhiên ở nước ta giai đoạn 1960–2005 
2.3.10. Trường hợp 10 
 Trong trường hợp yêu cầu thể hiện tốc độ 
tăng trưởng của 3 hoặc nhiều đại lượng có các đơn 
vị khác nhau như diện tích lúa (nghìn ha), sản lượng 
lúa (nghìn tấn), năng suất lúa (tạ/ha), thì ta chọn 
vẽ biểu đồ đường là thích hợp nhất. Do đây là bảng 
số liệu tính theo giá trị tuyệt đối nên trước khi vẽ 
cần phải xử lý số liệu, chuyển số liệu tuyệt đối sang 
số liệu tương đối (%). Cho năm đầu tiên bằng 
100%. Tất cả các đại lượng thể hiện đều bắt đầu 
trên trục tung với giá trị là 100%. 
- Ví dụ có bảng số liệu: 
Bảng 11. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của 
Việt Nam thời kì 1980 – 2010 
Năm Diện tích 
(nghìn ha) 
Sản lượng 
(nghìn tấn) 
Năng suất 
(tạ/ha) 
1980 6100 11600 19.0 
1990 6042 19225 31.8 
1995 6765 24963 36.9 
2000 7666 32529 42.4 
2005 7329 35832 49.0 
2010 7414 38725 52.0 
- Yêu cầu: Hãy vẽ biểu đồ thích hợp nhất 
thể hiện tốc độ tăng trưởng diện tích, năng suất và 
sản lượng lúa của Việt Nam thời kì 1980 – 2008 
Bảng 12. Tốc độ tăng trưởng diện tích, năng suất, sản 
lượng lúa của Việt Nam thời kì 1980-2010 (Đơn vị: %) 
- Nhận dạng: Đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ thích 
hợp nhất thể hiện tốc độ tăng trưởng 3 đại lượng có 
các đơn vị khác nhau qua nhiều năm, vì vậy ta chọn 
vẽ biểu đồ đường. 
Hình 10. Biểu đồ thích hợp nhất thể hiện tốc độ tăng 
trưởng diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt 
Nam thời kì 1980 – 2008 
- Lý do chọn vẽ biểu đồ đường: Vẽ biểu đồ 
đường là thích hợp nhất vì tính trực quan tốt hơn 
khi thể hiện tốc độ tăng trưởng 3 đại lượng với các 
đơn vị khác nhau là diện tích lúa (nghìn ha), sản 
lượng lúa (nghìn tấn), năng suất lúa (tạ/ha) qua 
nhiều năm (6 năm). 
Xử lý số liệu: Do đây là bảng số liệu có các 
đơn vị khác nhau (giá trị tuyệt đối) nên trước khi 
vẽ cần phải xử lý số liệu, chuyển số liệu tuyệt đối 
sang số liệu tương đối (%). Cho năm đầu tiên bằng 
100%. Tất cả các đại lượng thể hiện đều bắt đầu 
trên trục tung với giá trị là 100%. 
2.3.11. Trường hợp 11 
 Trong trường hợp 2 đại lượng có 2 giá trị 
khác nhau với yêu cầu phải vẽ biểu đồ so sánh, thì 
nên vẽ biểu đồ hình cột có 2 trục tung với 2 đại 
lượng khác nhau là thích hợp nhất. 
- Ví dụ có bảng số liệu: 
Bảng 13. Diện tích và giá trị sản lượng cây công nghiệp lâu năm và hàng năm qua các năm 1985, 1990 và 1995 
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC TẬP 4, SỐ 3 (2014) 
125 
Loại cây 
Diện tích (nghìn ha) Giá trị sản lượng (tỷ đồng) 
1985 1990 1995 1985 1990 1995 
Cây công nghiệp lâu năm 470 657 698 622 714 843 
Cây công nghiệp hàng năm 601 542 584 781 898 1060 
- Yêu cầu: Hãy vẽ biểu đồ so sánh diện tích 
và giá trị sản lượng cây công nghiệp lâu năm và 
hàng năm qua các năm 1985, 1990 và 1995. 
- Nhận dạng: Đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ so 
sánh 2 đại lượng có 2 giá trị khác nhau, thì nên vẽ biểu 
đồ hình cột có 2 trục tung với 2 đại lượng khác nhau. 
Hình 11. Biểu đồ so sánh diện tích và giá trị sản lượng cây 
công nghiệp lâu năm và hàng năm qua các năm 1985, 1990 
và 1995. 
- Lý do chọn vẽ biểu đồ hình cột có 2 trục 
tung: Vẽ biểu đồ hình cột có 2 trục tung là thích 
hợp nhất vì tính trực quan tốt hơn khi thể hiện được 
2 đại lượng là cây công nghiệp lâu năm và cây công 
nghiệp hàng năm, với 2 giá trị khác nhau là diện 
tích (nghìn ha) và giá trị sản lượng (tỷ đồng). 
2.3.12. Trường hợp 12 
 Trong trường hợp có 3 đại lượng có mối 
quan hệ với nhau, trong đó 1 đại lượng là tổng của 
2 đại lượng kia thì vẽ biểu đồ cột chồng. 
- Ví dụ có bảng số liệu: 
Bảng 14. Tình hình khai thác thủy sản ở nước ta giai 
đoạn 1995 – 2005 (Đơn vị: nghìn tấn) 
- Yêu cầu: Vẽ biểu đồ thích hợp nhất thể 
hiện tình hình phát triển ngành thủy sản ở nước ta 
giai đoạn 1995 – 2005 
 - Nhận dạng: Đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ 
thích hợp nhất thể hiện tình hình phát triển của 3 
đại lượng có mối quan hệ với nhau, trong đó 1 đại 
lượng là tổng của 2 đại lượng kia thì ta chọn vẽ 
biểu đồ cột chồng. 
Hình 12. Biểu đồ thích hợp nhất thể hiện tình hình phát 
triển ngành thủy sản ở nước ta giai đoạn 1995 – 2005 
- Lý do chọn vẽ biểu đồ cột chồng: Vẽ biểu 
đồ cột chồng là thích hợp nhất vì tính trực quan tốt 
hơn khi thể hiện 3 đại lượng có mối quan hệ với 
nhau là tổng sản lượng, khai thác và nuôi trồng 
thủy sản. Trong đó 1 đại lượng là tổng sản lượng 
thủy sản là tổng của 2 đại lượng kia (khai thác và 
nuôi trồng thủy sản). Chiều cao của cột thể hiện 
giá trị tổng số và chia ra làm khai thác và nuôi 
trồng thủy sản. 
3. Kết luận 
 Đặc trưng của môn Địa lí tri thức gồm có 
kênh chữ và kênh hình (hình ảnh, bảng số liệu, 
biểu đồ,) và phần bài tập về biểu đồ. Vì vậy, 
việc cung cấp kiến thức không chưa đủ, ngoài rèn 
luyện kỹ năng đọc sử dụng kênh hình giáo viên 
cần phải rèn luyện kỹ năng cho học sinh, sinh viên 
nhận dạng được để vẽ biểu đồ thích hợp, đáp ứng 
yêu cầu học tập tốt và đạt hiệu quả cao trong bộ 
môn Địa lí. 
UED JOURNAL OF SOCIAL SCIENCES, HUMANITIES AND EDUCATION VOL.4, NO.3 (2014) 
126 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
[1] Đặng Văn Đức và Nguyễn Thu Hằng (2004), Phương pháp dạy học địa lí theo hướng tích cực, NXB 
Đại học Sư phạm. 
[2] Trịnh Trúc Lâm (2007), Kĩ thuật thể hiện biểu đồ địa lí ôn thi đại học, NXB Hà Nội. 
[3] Đỗ Ngọc Tiến và Phí Công Việt (2006), Tuyển chọn những bài ôn luyện thực hành kĩ năng thi vào 
đại học - cao đẳng, NXB Giáo dục. 
[4] Lê Thông (2005), Địa lí kinh tế xã hội Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm. 
người km2 k 2 

File đính kèm:

  • pdfhuong_dan_nhan_dang_de_lua_chon_ve_bieu_do_thich_hop_trong_d.pdf