Hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh khi dạy học chương địa hình Việt Nam, Địa Lý lớp 12

Trong quá trình giảng dạy địa lý ở trường trung học, phát triển khả năng giải quyết

vấn đề cho học sinh là một nhiệm vụ quan trọng. Để làm được điều này, giáo viên nên sử

dụng kết hợp các phương pháp giảng dạy, giải quyết vấn đề, thảo luận, giảng dạy dự án,

thử nghiệm sáng tạo . Việc hình thành sự phát triển năng lực giải quyết vấn đề phải được

tiến hành thường xuyên, kiên trì, có tinh thần tích cực, độc lập và sáng tạo. Ngoài sự hướng

dẫn tận tâm và trách nhiệm của giáo viên, phải có thêm phương pháp tốt thì kết quả việc

dạy học ở trường trung học mới ổn đinh.

Hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh khi dạy học chương địa hình Việt Nam, Địa Lý lớp 12 trang 1

Trang 1

Hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh khi dạy học chương địa hình Việt Nam, Địa Lý lớp 12 trang 2

Trang 2

Hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh khi dạy học chương địa hình Việt Nam, Địa Lý lớp 12 trang 3

Trang 3

Hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh khi dạy học chương địa hình Việt Nam, Địa Lý lớp 12 trang 4

Trang 4

Hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh khi dạy học chương địa hình Việt Nam, Địa Lý lớp 12 trang 5

Trang 5

Hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh khi dạy học chương địa hình Việt Nam, Địa Lý lớp 12 trang 6

Trang 6

pdf 6 trang viethung 29/12/2021 160
Bạn đang xem tài liệu "Hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh khi dạy học chương địa hình Việt Nam, Địa Lý lớp 12", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh khi dạy học chương địa hình Việt Nam, Địa Lý lớp 12

Hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh khi dạy học chương địa hình Việt Nam, Địa Lý lớp 12
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 16 * 2017 89 
HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 
CHO HỌC SINH KHI DẠY HỌC CHƢƠNG ĐỊA HÌNH VIỆT NAM, 
ĐỊA LÝ LỚP 12 
Trần Quốc Nhuận* 
Tóm tắt 
Trong quá trình giảng dạy địa lý ở trường trung học, phát triển khả năng giải quyết 
vấn đề cho học sinh là một nhiệm vụ quan trọng. Để làm được điều này, giáo viên nên sử 
dụng kết hợp các phương pháp giảng dạy, giải quyết vấn đề, thảo luận, giảng dạy dự án, 
thử nghiệm sáng tạo ... Việc hình thành sự phát triển năng lực giải quyết vấn đề phải được 
tiến hành thường xuyên, kiên trì, có tinh thần tích cực, độc lập và sáng tạo. Ngoài sự hướng 
dẫn tận tâm và trách nhiệm của giáo viên, phải có thêm phương pháp tốt thì kết quả việc 
dạy học ở trường trung học mới ổn đinh. 
Từ khoá: Năng lực giải quyết vấn đề, địa hình Việt Nam, địa lý lớp 12, Trường 
THPT chuyên Lương Văn Chánh, Phú Yên. 
 Abstract 
Forming and developing problem-solving skills for students when teaching the 
Chapter: Topography of Vietnam, Geography Grade 12 
In teaching geography at high schools, developing problem-solving ability for 
students is an important task. In order to deal with this issue, teachers should use a 
combination of teaching methods such as problem-solving, discussion, project method, 
creative experimentation, and the like. The formation of problem-solving skills should be 
carried out regularly and persistently, with a positive, independent and creative attitude. 
Besides the teachers’ responsible, dedicated guidance and support, good teaching and 
learning methods will also bring about better results and stability at high schools. 
Keywords: Ability of problem solving, topography of Vietnam, geography grade 
12, Luong Van Chanh gìfted high school, Phu Yen. 
Đổi mới giáo dục căn bản toàn diện 
của nước ta đang chú trọng vấn đề định 
hướng phát triển năng lực (NL) nhằm đạt 
được mục tiêu phát triển toàn diện cho học 
sinh, quan tâm đến việc sau khi học học 
sinh có thể áp dụng vào công việc và đời 
sống. Chính vì vậy , cần bồi dưỡng và nâng 
cao năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh 
là khâu đột phá cần thiết đối với môn học. 
Xây dựng hệ thống năng lực căn bản là 
________________________________ 
* ThS, Trường THPT chuyên Lương Văn Chánh 
nhiệm vụ rất quan trọng của các môn học ở 
trường THPT, trong đó có môn Địa lý. 
1. Khái niệm về năng lực 
 Năng lực là khả năng đạt được một 
kết quả nhất định trong một công việc cụ 
thể do một con người cụ thể thực hiện. Nó 
có thuộc tính phức tạp, tập hợp các nét độc 
đáo của nhân cách, hội tụ của các yếu tố tri 
thức, kỹ năng, thái độ, kinh nghiệm, hành 
động, trách nhiệm. NL không phải có sẵn, 
nó được hình thành và phát triển thông qua 
quá trình học tập, làm việc, trải nghiệm. Vì 
90 TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN 
vậy, tổ chức các hoạt động học tập là điều 
kiện cần thiết để hình thành và phát triển 
năng lực. Năng lực được chia thành năng 
lực chung và năng lực riêng. 
“ Năng lực chung”: “NL chung là 
năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kỳ người 
nào cũng cần có để sống và làm việc. Các 
NL chung được hình thành và phát triển 
qua các môn học và hoạt động trải nghiệm 
sáng tạo” [1, tr.5] như: tự học, giải quyết 
vấn đề và sáng tạo, sử dụng ngôn ngữ và 
giao tiếp, hợp tác, tính toán, sử dụng công 
nghệ thông tin - truyền thông, thẩm mỹ và 
thể chất. 
“ Năng lực riêng”: trên cơ sở khái 
niệm, nội hàm NL chung, trong quá trình 
dạy học, dựa vào đặc trưng của môn học 
mà hình thành cho học sinh hệ thống những 
năng lực riêng phù hợp. NL đặc thù mỗi 
môn học là NL được hình thành bởi ưu thế 
của môn học. Nó liên quan chặt chẽ đến ưu 
thế đặc điểm của môn học. Đối với môn địa 
lý cần căn cứ vào NL chung, đặc điểm của 
bộ môn, NL riêng của bộ môn được xác 
định như sau: thu thập và xử lý thông tin 
liên quan đến địa lý, tái hiện kiến thức, xác 
định mối quan hệ nhân quả, nhận định đánh 
giá các đối tượng địa lý nghiên cứu, thực 
hành và vận dụng những kiến thức địa lý 
trong cuộc sống, học tập, trình bày được 
các vấn đề địa lý vừa nhận thức được. 
2. Phát triển năng lực giải quyết vấn đề 
(NLGQVĐ) cho học sinh trong dạy học 
Địa lý ở trƣờng phổ thông 
 Dạy học địa lý ở trường THPT cần 
hình thành và phát triển NL giải quyết vấn 
đề cho học sinh, đây là việc làm rất quan 
trọng và cần thiết; vì nó thể hiện ở các kỹ 
năng trong hoạt động học tập để giải quyết 
đạt hiệu quả những vấn đề học tập đặt ra. 
Tiêu chí đánh giá người học có NLGQVĐ 
phải đảm bảo 3 yếu tố đó là: có hiểu biết 
chắc chắc chắn kiến thức về vấn đề cần giải 
quyết, có kỹ năng giải quyết vấn đề, có thái 
độ đúng khi giải quyết vấn đề. Trong đó kỹ 
năng giải quyết vấn đề là yếu tố quan trọng 
nhất, tiên quyết và có tính chất quyết định 
cho việc hình thành và phát triển NLGQVĐ 
đối với người học. NLGQVĐ của HS trong 
quá trình dạy học bộ môn địa lý ở trường 
phổ thông gồm có: 
- Phát hiện vấn đề địa lý và nêu vấn 
đề cần giải quyết 
- Nhận thức và lựa chọn được cách 
thức giải quyết vấn đề tối ưu nhất 
- Nghiên cứu tư liệu và tìm kiếm 
thông tin liên quan đến vấn đề địa lý 
- Đưa ra các phương án trả lời và 
chọn phương án tối ưu 
- Trình bày vấn đề qua sử dụng đồ 
dùng trực quan trong dạy học 
- Tìm ra mối quan hệ của các vấn 
đề đối tượng địa lý 
- Vận dụng kiến thức địa lý vào 
thực tiễn 
- Trình bày báo cáo kết quả nghiên 
cứu tìm hiểu học tập của mỗi học sinh (HS) 
hay nhóm học sinh. 
 Trong quá trình dạy học địa lý, để 
phát triển NLGQVĐ cho HS, giảng viên 
(GV) cần phải tiến hành các bước trình tự 
như sau: 
 1. GV hướng dẫn HS tìm hiểu, phát 
hiện vấn đề bằng cách tạo tình huống có 
vấn đề, phát biểu và đặt ra mục đích để giải 
quyết vấn đề đó. 
 2. GV hướng dẫn HS giải quyết vấn 
đề đó bằng cách làm rõ mối quan hệ giữa 
cái đã biết với cái chưa biết, đề xuất và 
thực hiện hướng giải quyết vấn đề, trình 
bày cách giải quyết vấn đề. 
 3. Nghiên cứu và kiểm tra lời giải, đề 
xuất những vấn đề mới có liên quan và giải 
quyết vấn đề. 
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 16 * 2017 91 
 Để sử dụng phương pháp này đạt 
hiệu quả, trong quá trình dạy học, tuỳ theo 
mỗi bài, mỗi chương GV cần vận dụng linh 
hoạt các phương pháp dạy học để có thể 
phát triển tốt nhất NLGQVĐ cho HS. 
3. Phát triển NLGQVĐ cho HS khi dạy 
chƣơng Địa hình Việt Nam, Địa lý lớp 12 
 Việc phát triển NLGQVĐ cho HS 
khi dạy chương Địa hình Việt Nam nói 
riêng và các chương khác thuộc địa lý lớp 
12 nói chung thì có nhiều phương pháp 
như: phương pháp dạy học nêu vấn đề, 
phương pháp dạy học dự án, phương pháp 
dạy học thảo luận, phương pháp dạy học 
khăn phủ bàn, phương pháp dạy học bàn 
tay nặn bột... Tuy nhiên, trong khuôn khổ 
bài viết này chỉ đề cập đến phương pháp 
dạy học nêu vấn đề. 
 Sử dụng phương pháp dạy học nêu 
vấn đề trong phát triển NLGQVĐ cho HS 
12 khi dạy chương Địa hình Việt Nam 
(Việt Nam đất nước nhiều đồi núi), lớp 12. 
Phương pháp dạy học nêu vấn đề là cách 
dạy học tích cực, có nhiều ưu điểm nhằm 
góp phần phát triển NLGQVĐ đối với HS. 
Ở đây GV tạo cách dẫn dắt HS vào tình 
huống có vấn đề thông qua các bài tập nhận 
thức, phát triển năng lực HS. Với chương 
Địa hình Việt Nam . 
*GV đƣa ra tình huống 1. 
- Bước 1. Nêu vấn đề: Việt Nam có nhiều 
thung lũng sâu hơn là núi cao, phần lớn 
diện tích lãnh thổ là đồi núi, địa hình có sự 
phân hoá nhiều dạng, địa hình lại có sự bất 
đối xứng sườn Đông - Tây. Vậy, địa hình 
nước ta có những đặc điểm nổi bật nào? 
- Bước 2. GV hướng dẫn HS giải quyết vấn 
đề 1: có 4 đặc điểm chính: địa hình phần 
nhiều đồi núi nhưng chủ yếu là đồi núi 
thấp; cấu trúc địa hình đa dạng; địa hình 
tiêu biểu của vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió 
mùa; địa hình chịu tác động mạnh mẽ của 
con người. Tiếp đến GV yêu cầu HS nghiên 
cứu tài liệu sách giáo khoa kết hợp với bản 
đồ (Atlat) phân tích từng đặc điểm, nêu 
được các ý: + Địa hình nước ta phần lớn là 
đồi núi nhưng chủ yếu là đồi núi thấp, đồi 
núi chiếm ¾ diện tích lãnh thổ, trong đó núi 
cao trên 2000m chỉ có 1%, núi trung bình 
có độ cao từ 1000m - 2000m chiếm 14%, 
núi thấp độ cao dưới 1000m chiếm 60%; 
còn đồng bằng chỉ chiếm có ¼ diện tích 
lãnh thổ (25%). + Cấu trúc địa hình nước ta 
đa dạng, phức tạp, nguyên nhân do vận 
động Tân kiến tạo nâng lên và có tính phân 
bậc rõ rệt (500m - 800m - 1000m -1500m - 
2000m), có hướng nghiêng chung từ Tây 
Bắc xuống Đông Nam. Có nhiều dạng địa 
hình như núi cao ở vùng Tây Bắc; sơn 
nguyên; cao nguyên đá vôi ở Tây Bắc và 
Đông Bắc, cao nguyên đất đỏ bazan ở Tây 
Nguyên; đồi trung du rộng lớn ở vùng 
Đông Bắc; bán bình nguyên ở Đông Nam 
Bộ; địa hình cac-xto; thung lũng và lòng 
chảo. + Địa hình bị cắt xẻ mạnh do các 
rãnh đứt gãy của kiến tạo địa chất kết hợp 
khí hậu nhiệt đới ẩm tác động tạo nên nhiều 
thung lũng sâu bên cạnh núi cao. Núi cao 
lại không nhiều (1% diện tích lãnh thổ) mà 
nhiều thung lũng, sông, hồ sâu tạo nên cảm 
giác khi quan sát thấy như nhiều thung lũng 
sâu hơn là núi cao.+ Địa hình chịu tác động 
mạnh mẽ của con người: phân tích tác động 
tích cực và tiêu cực do hoạt động kinh tế - 
xã hội tạo ra. 
- Bước 3. GV chuẩn kiến thức và nêu gợi ý 
biện pháp khai thác phải hợp lý, hiệu quả . 
* GV đƣa tiếp tình huống 2: 
- Bước 1: Nêu vấn đề: địa hình có những 
dạng cơ bản tương ứng với độ cao như thế 
nào? Sự phân hoá địa hình từ Đông sang 
Tây ra sao? 
- Bước 2. GV hướng dẫn HS giải quyết vấn 
đề, yêu cầu nêu được các ý: 
92 TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN 
 + Có 7 dạng, tương ứng độ cao trên 2000 
m là núi cao; từ 500 - 2000 m có mặt bằng 
tương đối rộng là các cao nguyên, sơn 
nguyên (trên cao nguyên có núi cao gọi là 
sơn nguyên); hang động cac - xtơ; đồi trung 
du độ cao trung binh 300 - 500m; bán bình 
nguyên khoảng 100 – 300m; dưới 100m là 
đồng bằng, thung lũng và lòng chảo. 
+ Địa hình phân hoá từ đông sang tây, gồm 
có: ven biển và thềm lục địa; đồng bằng 
ven biển; trung du và miền núi. 
- Bước 3. GV chuẩn kiến thức và gợi ý 
phân tích mở rộng 4 vùng núi nước ta 
 * GV đƣa ra tình huống 3: 
- Bước 1. Nêu câu hỏi: So sánh đặc điểm 
địa hình giữa vùng núi Đông Bắc với Tây 
Bắc? Địa hình giữa vùng núi Trường Sơn 
Bắc với Trường Sơn Nam? 
- Bước 2. GV hướng dẫn HS giải quyết vấn 
đề, HS nêu được các ý chính: 
 Vùng núi Đông Bắc với Tây Bắc: 
+ Giống nhau: về hoạt động địa 
chất, về các dạng địa hình 
+ Khác nhau: nêu rõ điểm địa hình 
giữa vùng núi Đông Bắc với Tây Bắc các 
nét nổi bật là độ cao, hướng núi, độ cắt xẻ 
và các dạng địa hình tiêu biểu. Vùng núi 
Đông Bắc chủ yếu là núi thấp, độ cao trung 
bình khoảng 600m, chỉ một vài ngọn núi 
cao gần với biên giới Việt Nam-Trung 
Quốc (Tây Côn Lĩnh, Kiều Liên Ti), hướng 
núi chính là hướng vòng cung, với 4 dãy 
cánh cung (Sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc Sơn, 
Đông Triều); Đông Bắc có vùng đồi trung 
du rộng lớn nhất nước ta, kéo dài từ cánh 
cung Ngân Sơn ra đến Đông Triều; có vùng 
đồng bằng duyên hải Quảng Ninh và đồng 
bằng sông Hồng ở phía Đông Nam; vùng 
Đông Bắc còn có thềm lục địa nông và 
rộng là vịnh Bắc Bộ. Nguyên nhân ở đây là 
do hoạt động nội lực nâng lên mạnh ở phía 
Tây Bắc và yếu dần, lại sụt lún ở phần 
Đông Nam nên địa hình ở đây có vùng đồi 
trung du tiếp liền giữa đồng bằng và miền 
núi rộng lớn. Độ cắt xẻ vùng Đông Bắc vì 
thế cũng nhỏ hơn ở Tây Bắc. Dạng địa hình 
tiêu biểu ở Đông Bắc có núi thấp, đồi trung 
du, cao nguyên, thềm lục địa, địa hình cac -
xtơ; còn vùng Tây Bắc có nhiều núi cao và 
núi trung bình, với độ cao trung bình trên 
600m Hoàng Liên Sơn với đỉnh Fansipan 
cao 3143 m, dãy Pu-sam-sao, dãy Pu-đen-
đinh, núi Pu - Hoạt. Hướng nghiêng chung 
và hướng núi chủ đạo từ Tây Bắc xuống 
Đông Nam, khác với vùng Đông Bắc là 
hướng núi vòng cung; mật độ cắt xẻ của 
vùng lớn do có nhiều đứt gãy trong quá 
trình hoạt động nâng lên và hạ xuống nơi 
địa chất có cấu tạo những nham thạch cứng 
đã hình thành nên nhiều sông sâu và hẻm 
vực lớn như sông Đà, sông Mã. Vùng 
Tây Bác cũng có tương đối đầy đủ các dạng 
địa hình 
Vùng núi Trường Sơn Bắc với 
Trường Sơn Nam: 
+ Giống nhau: về hoạt động địa 
chất, độ cao, về các dạng địa hình. 
+ Khác nhau: nêu rõ sự phân hoá 
địa hình giữa Trường Sơn Bắc với Trường 
Sơn Nam, qua bản đồ địa hình cho thấy 
Trường Sơn Bắc hẹp và thấp hơn Trường 
Sơn Nam. Trường Sơn Bắc có vùng đồi 
trung du nhỏ hẹp (ở Đồng Hới tỉnh Quảng 
Bình, từ biển lên đến đỉnh trường sơn chỉ 
rộng có 50 km). Núi cao chỉ có ở vùng tây 
Thanh Hoá - Nghệ An và Bạch Mã; còn các 
tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị là vùng núi 
thấp đá vôi sót lại. Trong khi đó, vùng núi 
Trường Sơn Nam đồ sộ cả hai sườn Đông 
và Tây trải rộng, nhiều núi cao trên 2000m 
(Ngọc Linh, Chư – giang - sin, Vọng Phu, 
Lang = bi - ang) và 6 cao nguyên đất đỏ 
bazan xếp tầng (Kon Tum, Plây ku, Đắc 
Lắc, Mơ Nông, Lâm Viên, Di Linh). Sườn 
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 16 * 2017 93 
Tây thoải về đồng bằng Nam Bộ, sườn 
Đông dốc đứng nghiêng về phía biển, có 
đồi trung du rộng hơn so Trường Sơn Bắc. 
- Bước 3. . GV chuẩn kiến thức và nêu gợi 
ý : thuận lợi và khó khăn của địa hình mỗi 
vung đối phát triển kinh tế và xã hội? 
 * GV đƣa ra tình huống 4: 
- Bước 1. GV nêu câu hỏi: Mối quan hệ 
giữa địa hình vùng núi - trung du - đồng bằng 
- thềm lục địa ven biển? Những thuận lợi 
và khó khăn khu vực địa hình đồi núi và 
đồng bằng đối với phát triển kinh tế và xã 
hội? 
- Bước 2. GV hướng dẫn HS giải quyết vấn 
đề, HS nêu được các ý chính: + vùng Đông 
Bắc núi cao ở xa trong đất liền, có đồng 
bằng ven biển với thềm lục địa nông và 
rộng nên ở đây có vùng đồi trung du rộng 
lớn nhất nước; + còn ở vùngTây Bắc núi 
cao, không có đồng bằng rộng, không có 
thềm lục địa nên chỉ có những cao nguyên, 
còn vùng trung du thì hẹp hơn ở vùng Đông 
Bắc. 
+ Về những thuận lợi và khó khăn khu vực 
địa hình đồi núi và đồng bằng đối với sản 
xuất và đời sống: vùng đồi núi, thuận lợi về 
tài nguyên, khoáng sản, thành phần loài 
thực động vật; bề mặt các cao nguyên 
tương đối bằng phẳng với đất feralit tốt; 
tiềm năng thuỷ điện lớn; khí hậu mát mẻ 
trong lành thuận lợi cho phát triển kinh tế 
và sinh hoạt đời sống. Tuy nhiên, vùng có 
những hạn chế trong giao lưu, khai thác tài 
nguyên, thiên tai và bất ổn về thời tiết 
Còn ở khu vực đồng bằng, có địa hình bằng 
phẳng, đất phù sa màu mỡ, nguồn nước dồi 
dào... thuận lợi cho tập trung dân cư đông 
đúc và phát triển kinh tế-xã hội, giao lưu 
hội nhập. Vùng đồng bằng cũng có những 
hạn chế trong quá trình khai thác cần khắc 
phục như ngập úng, do địa hình thấp hoặc 
do hệ thống đê ngăn lũ; thiếu nước; xâm 
nhập mặn; nhiễm chua phèn đất đai ở vùng 
trũng ngập nước dài ngày; cát bồi; sạt lở; 
thiên tai 
* GV đƣa ra tình huống 5: 
- Bước 1. GV nêu câu hỏi: Tại sao nói địa 
hình nước ta tiêu biểu của địa hình vùng 
khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa? 
- Bước 2. GV hướng dẫn HS giải quyết vấn 
đề: HS nêu được các ý chính: 
+ Khí hậu nắng lắm, mưa nhiều xâm thực 
mạnh ở vùng đồi núi . 
+ Bồi tụ nhanh ở vùng trũng thấp và các 
đồng bằng. GV gợi ý các hệ quả của viêc 
xâm thực mạnh và bồi nhanh tụ tạo nên 
 - Bước 3. GV chuẩn kiến thức và nêu gợi ý 
mở rộng để HS suy nghĩ thêm về tác động 
của con người lên địa hình trong quá trình 
cư trú. 
* GV đƣa ra tình huống 6: 
- Bước 1. GV nêu câu hỏi: Địa hình nước ta 
chịu tác động tích cực và tiêu cực của con 
người như thế nảo? 
- Bước 2. GV hướng dẫn HS giải quyết vấn 
đề, HS nêu được các ý chính: 
+ Tích cực: canh tác đúng kỹ thuật, kết hợp 
nông - lâm, tưới tiêu nước, làm ruộng bậc 
thang, kỹ thuật cày bừa phù hợp địa hình 
từng vùng. 
+ Tiêu cực: làm kênh mương trong sản xuất 
nông nghiệp, khai thác lâm sản quá mức 
dẫn đến nhiều vùng đồi núi trọc thì mức san 
bằng cắt xẻ địa hình càng nhanh. Hoạt động 
khai thác khoáng sản ở vùng đồi núi thiếu 
quy hoạch, thiếu kiểm soát cũng làm bề 
mặt địa hình biến dạng. Ngoài ra, quá trình 
đô thị hoá, công nghiệp hoá xây dựng các 
công trình, quy hoạch các khu dân cư cũng 
tác động tiêu cực lên bề mặt địa hình lãnh 
thổ nước ta. 
- Bước 3. GV chuẩn kiến thức và nêu gợi ý 
cho HS: vai trò quan trọng của địa hình 
trong các thành phần tự nhiên, định hướng 
94 TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN 
trong quá trình sử dụng. GV kết luận: Địa 
hình là thành phần tự nhiên rất quan trọng, 
tác động tương hỗ đến các thành phần tự 
nhiên khác. Trong khai thác sử dụng vào 
mục đích kinh tế - xã hội cần nắm vững 
quy luật tự nhiên. 
Nhìn chung,hình thành và phát triển 
NLGQVĐ cho HS là một việc làm quan 
trọng trong quá trình dạy học môn địa lý. Ở 
mỗi chương, mỗi bài nếu GV tổ chức tốt 
hoạt động dạy học theo hướng phát huy 
năng lực cho học sinh, sẽ góp phần cho 
việc truyền đạt nội dung kiến thức bài học 
thêm hấp dẫn, sinh động, truyền cảm hứng 
học tập cho các em, tiết học địa lý giảm đi 
sự khô khan buồn tẻ. HS ham thích học tập, 
góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn 
địa lý trong trường phổ thông. Để đạt được 
điều đó, GV và HS phải có sự quyết tâm nỗ 
lực cố gắng đồng bộ, đầu tư rèn luyện phát 
triển năng lực thường xuyên và liên tục. 
GV chú trọng giáo dục HS có thái độ học 
tập tích cực, nghiêm túc, tự giác, sáng tạo 
dưới sự tận tình hướng dẫn động viên dìu 
dắt của GV, thì việc thực hiện phát triển 
năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh 
trong học tập môn địa lý mới đạt kết quả 
cao như mong muốn. Trong quá trình thực 
hiện GV cần kết hợp hài hoà nhiều phương 
pháp phù hợp ở mỗi chương, mỗi bài nhằm 
đạt hiệu quả cao nhất, tránh tình trạng rập 
khuôn máy móc gây tâm lý nhàm chán đối 
với người học 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
[1] Ban tuyên giáo Trung ương, Tài liệu học tập Nghị quyết lần thứ 8 Ban chấp hành 
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XI - NXB Chính trị quốc gia Sự thật, HN 
2013. 
[2] Bernd Meiev - Nguyễn Văn Cường, Phát triển năng lực thông qua phương pháp và 
phương tiện dạy học mới. Tài liệu tập huấn giáo viên trung học phổ thông 2005. 
[3] Nguyễn Thị Thế Bình-Bùi Thị Nhung, Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học 
sinh khi dạy học Cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975(lịch sử 12). Tạp chí Giáo 
dục số 364, tháng 8/2005, trang 28-30. 

File đính kèm:

  • pdfhinh_thanh_va_phat_trien_nang_luc_giai_quyet_van_de_cho_hoc.pdf