Tác động của đa dạng hóa đến rủi ro hệ thống của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Nghiên cứu phân tích sự tác động của đa dạng hóa đến rủi ro hệ thống của
công ty bằng quy trình 2 bước của Heckman. Kết quả nghiên cứu cho thấy cả hai dạng là
đa dạng hóa ngành kinh doanh và đa dạng hóa khu vực địa lý đều có tác động cùng
chiều lên rủi ro hệ thống và mức độ đa dạng hóa càng cao thì rủi ro hệ thống càng lớn.
Kết quả nghiên cứu hàm ý rằng, những lợi ích công ty hưởng không đủ bù đắp những
thiệt hại phát sinh do đa dạng hóa. Qui mô công ty và cơ cấu chi phí tác động cùng chiều
đến rủi ro hệ thống, đòn bẩy tài chính và cơ hội tăng trưởng tác động ngược chiều lên rủi
ro hệ thống
Trang 1
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Trang 5
Trang 6
Trang 7
Trang 8
Trang 9
Trang 10
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Tác động của đa dạng hóa đến rủi ro hệ thống của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Tác động của đa dạng hóa đến rủi ro hệ thống của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
100 | Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, số 133 (12/2020) Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế Trang chủ: TÁC ĐỘNG CỦA ĐA DẠNG HÓA ĐẾN RỦI RO HỆ THỐNG CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM Lê Trương Niệm1 Trường Đại học Công Nghiệp Thực Phẩm Thành phố Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam Bùi Hữu Phước Trường Đại Học Tài Chính – Marketing, Tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam Ngày nhận: 24/10/2020; Ngày hoàn thành biên tập: 04/12/2020; Ngày duyệt đăng: 15/12/2020 Tóm tắt: Nghiên cứu phân tích sự tác động của đa dạng hóa đến rủi ro hệ thống của công ty bằng quy trình 2 bước của Heckman. Kết quả nghiên cứu cho thấy cả hai dạng là đa dạng hóa ngành kinh doanh và đa dạng hóa khu vực địa lý đều có tác động cùng chiều lên rủi ro hệ thống và mức độ đa dạng hóa càng cao thì rủi ro hệ thống càng lớn. Kết quả nghiên cứu hàm ý rằng, những lợi ích công ty hưởng không đủ bù đắp những thiệt hại phát sinh do đa dạng hóa. Qui mô công ty và cơ cấu chi phí tác động cùng chiều đến rủi ro hệ thống, đòn bẩy tài chính và cơ hội tăng trưởng tác động ngược chiều lên rủi ro hệ thống. Từ khóa: Đa dạng hóa ngành kinh doanh, Đa dạng hóa khu vực địa lý, Rủi ro hệ thống THE EFFECTS OF DIVERSIFICATION ON SYSTEMATIC RISK OF LISTED COMPANIES ON VIETNAM STOCK EXCHANGE Abstract: This study analyzes the effects of diversification on systematic risk using Heckman’s two-step procedure. The authors find that both geographic and industrial diversification impact positively on the systematic risk and the higher the degree of diversification, the greater the systematic risk. The results imply that the benefits which a company achieves are not enough to compensate for the damages arising from diversification. Firm size and capital intensity have a positive impact on the systematic risk, financial leverage and growth opportunities have a negligible impact on the systematic risk. Keywords: Industrial diversification, Geographic diversification, Systematic risk 1 Tác giả liên hệ, Email: niemlt@hufi.edu.vn Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, số 133 (12/2020) | 101 1. Giới thiệu Rủi ro hệ thống của công ty là yếu tố quan trọng được cả công ty và nhà đầu tư quan tâm, các công ty sử dụng rủi ro hệ thống để tính chi phí sử dụng vốn nhằm mục đích đưa ra quyết định đầu tư vào các dự án, các nhà đầu tư sử dụng thông tin về rủi ro hệ thống để định giá chứng khoán nhằm ra quyết định nên đầu tư vào cổ phiếu của công ty. Do đó, việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến rủi ro hệ thống là cần thiết. Đa dạng hóa công ty là một trong những yếu tố tác động đến rủi ro hệ thống của công ty. Lợi ích của đa dạng hóa giúp giảm rủi ro hệ thống là công ty có dòng tiền ở các ngành kinh doanh, khu vực địa lý có mối tương quan không hoàn hảo có thể làm giảm độ biến động trong dòng tiền của công ty và vì thế, giúp làm giảm rủi ro hệ thống của công ty. Nhưng khi đa dạng hóa khu vực địa lý công ty gặp phải những rủi ro khác như rủi ro tỷ giá, rủi ro chính trị, đa dạng hóa ngành kinh doanh công ty cần giải quyết vấn đề thông tin bất cân xứng, khó khăn hơn trong việc giám sát các ngành, kiểm soát giám đốc bộ phận, những vấn đề này có thể làm gia tăng rủi ro hệ thống của công ty (Reeb & cộng sự, 1998). Vậy đa dạng hóa của các công ty niêm yết ở Việt Nam phải đối mặt với những rủi ro phát sinh do đa dạng hóa thì sẽ được hưởng lợi ích giảm rủi ro hệ thống nhiều hơn hay phải gánh chịu rủi ro hệ thống lớn hơn? Các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về sự tác động của đa dạng hóa đến rủi ro hệ thống có cả 3 trường hợp. Thứ nhất, Fatemi (1984), Michel & Shaked (1986), Goldberg & Heflin (1995) cho rằng đa dạng hóa làm giảm rủi ro hệ thống của công ty. Thứ hai, Brewer (1981), Thompson (1984), Jafarinejad & cộng sự (2018) chứng minh đa dạng hóa không tác động đến rủi ro hệ thống công ty. Reeb & cộng sự (1998), Olibe & cộng sự (2008) và Krapl (2015) nhận định rằng đa dạng hóa làm tăng rủi ro hệ thống của công ty. Ở Việt Nam, có ít công trình nghiên cứu về sự tác động của đa dạng hóa công ty đến rủi ro hệ thống. Gần đây, Vũ & Nguyễn (2018) nghiên cứu về đa dạng hóa nguồn tài trợ và cho rằng, hoạt động đa dạng hóa nguồn tài trợ nợ giúp cho doanh nghiệp linh hoạt trong nguồn vốn để từ đó, có thể triển khai các hoạt động đầu tư dễ dàng hơn, đặc biệt là đầu tư vào các ngành có liên quan. Hoạt động đa dạng hóa nguồn vốn chủ sở hữu giúp ích một phần trong việc giảm rủi ro phá sản. Bằng cách tiếp cận khác với nghiên cứu của Vũ & Nguyễn (2018), nhóm tác giả nghiên cứu ở ba góc độ: (i) Nghiên cứu về đa dạng hóa ngành kinh doanh và đa dạng hóa khu vực địa lý, (ii) Đo lường rủi ro theo quan điểm thị trường (mô hình CAPM), và (iii) Phương pháp nghiên cứu là qui trình 2 bước của Heckman (1979) thì đa dạng hóa tác động như thế nào đến rủi ro hệ thống? Kết quả của nghiên cứu này cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về mối tương quan giữa đa dạng hóa và rủi ro hệ thống ở thị trường có nhiều điểm đặc trưng như Việt Nam. 102 | Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, số 133 (12/2020) 2. Tổng quan nghiên cứu và phát triển giả thuyết Rủi ro hệ thống (hay còn gọi là rủi ro thị trường) là loại rủi ro có ảnh hưởng đến tất cả các nhà đầu tư do sự biến động các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế, tuy nhiên, do mức độ ảnh hưởng khác nhau mà tác động đến các đối tượng cũng khác nhau. Có một số nguyên nhân dẫn đến rủi ro hệ thống như thay đổi trong lãi suất, thay đổi trong sức mua (lạm phát), biến động của giá xăng dầu, những thay đổi trong kỳ vọng của nhà đầu tư về triển vọng của nền kinh tế. Rủi ro hệ thống được tính theo công thức sau: ܤܧܶܣ = ܥݒ(ܴ, ܴெ) ܸܽݎ(ܴெ) = ߪ.ெ ߪெଶ = ߩெ∗ ߪ ߪெ Lợi ích của đa dạng hóa là giảm hệ số tương quan ߩெ vì thế có thể giảm rủi ro hệ thống BETA, nhưng khi đa dạng hóa có khả năng gặp phải những vấn đề về rủi ro tỷ giá, rủi ro chính trị, chi phí đại diện sẽ làm tăng độ biến động tỷ suất sinh ... lý và Kinh tế quốc tế, số 133 (12/2020) | 113 Trong bảng 6 hệ số của biến giả của GM là 0,192 và có ý nghĩa ở mức 1%, cho thấy những công ty vừa đa dạng hóa ngành vừa đa dạng hóa khu vực địa lý có rủi ro hệ thống lớn hơn, hệ số của GS là 0,067 và có mức ý nghĩa 10% cho thấy những công ty đa dạng hóa khu vực địa lý tác động cùng chiều lên rủi ro hệ thống (mô hình 2.1, giả thuyết H1). Trong mô hình 2.2, hệ số của biến giả công ty đa dạng hóa khu vực địa lý là dương 0,118 và có ý nghĩa ở mức 1%, cho thấy công ty đa dạng hóa khu vực địa lý có rủi ro hệ thống cao hơn so với công ty không đa dạng khu vực địa lý (giả thuyết H1). Trong mô hình 2.3, khi đa dạng hóa khu vực địa lý là chỉ số Berry -Herfindahl thì không có sự tác động có ý nghĩa thống kê đến rủi ro hệ thống, nhưng khi đại diện cho đa dạng hóa khu vực địa lý là FS thì có sự tác động cùng chiều với mức ý nghĩa 5% (mô hình 2.4, giả thuyết H1), giải thích cho điều này nhóm tác giả cho rằng các công ty niêm yết thường chọn báo cáo bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh là chính yếu nên báo cáo rất chi tiết theo lĩnh vực kinh doanh, còn báo cáo bộ phận theo khu vực địa lý là thứ yếu nên khi báo cáo bộ phận theo khu vực địa lý thường chia làm 2 phần là trong nước và ngoài nước (ngoài nước có thể là 1 nước ngoài hoặc nhiều nước ngoài), ít có công ty nào báo cáo cụ thể bao nhiêu nước nên cách đo lường theo FS sẽ hiệu quả hơn. Đa dạng hóa ngành kinh doanh tác động cùng chiều lên rủi ro hệ thống với mức ý nghĩa 1% khi đo lường bằng chỉ số Berry – Herfindahl (mô hình 2.6, giả thuyết H2) và bằng DIVS (mô hình 2.7, giả thuyết H2). Tóm lại, đa dạng hóa ngành kinh doanh và đa dạng hóa khu vực địa lý có tác động cùng chiều lên rủi ro hệ thống. Quy mô công ty (LMC) tác động cùng chiều đến rủi ro hệ thống với mức ý nghĩa 1%. Đòn bẩy tài chính tác động ngược chiều lên rủi ro hệ thống với mức ý nghĩa 1%. Cơ cấu chi phí CI tác động cùng chiều lên rủi ro hệ thống với mức ý nghĩa 1%. MB tác động ngược chiều lên rủi ro hệ thống, tỷ lệ Mill’s nghịch đảo IMR tác động ngược chiều lên rủi ro hệ thống với mức ý nghĩa 1% (Bảng 6). 4.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu Trong bài nghiên cứu này, nhóm tác giả phát hiện đa dạng hóa khu vực địa lý tác động cùng chiều lên rủi ro hệ thống của công ty, đa dạng hóa ngành kinh doanh tác động cùng chiều lên rủi ro hệ thống của công ty, công ty có mức độ đa dạng hóa càng cao thì rủi ro hệ thống càng lớn, các công ty đa dạng hóa ngành kinh doanh rủi ro hệ thống lớn hơn các công ty không đa dạng hóa ngành kinh doanh, các công ty đa dạng hóa khu vực địa lý có rủi ro hệ thống lớn hơn các công ty không đa dạng hóa khu vực địa lý, công ty vừa đa dạng hóa ngành kinh doanh vừa đa dạng hóa khu vực địa lý rủi ro hệ thống là lớn nhất khi so sánh với các dạng đa dạng hóa còn lại và không đa dạng hóa. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với (Krapl, 2015; Olibe & cộng sự, 2008; Reeb & cộng sự, 1998) và phù hợp với môi trường kinh doanh trong nước và thế giới có nhiều biến động khó lường trong những năm qua, những biến động của các quốc gia trên thế giới sẽ ảnh hưởng đến 114 | Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, số 133 (12/2020) thị trường chứng khoán của quốc gia đó và cũng ảnh hưởng đến rủi ro và tỷ suất sinh lời của các chứng khoán ở thị trường chứng khoán Việt Nam do quá trình hội nhập tài chính quốc tế tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa các thị trường chứng khoán (Anh, 2020). Trong giai đoạn 2015 – 2019, kinh tế Việt Nam mới dần hồi phục nhưng thu nhập dân cư suy giảm chưa hồi phục. Mặt khác, các công ty đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh hay đa dạng hóa khu vực địa lý luôn gắn liền với tăng quy mô kinh doanh, tăng đầu tư dài hạn, do đó, các công ty tất nhiên gặp phải rủi ro kinh doanh cao. Các công ty đa dạng hóa khu vực địa lý ngoài chịu tác động của các yếu tố rủi ro trong nước còn phải đối mặt với các rủi ro khác như rủi ro tỷ giá, rủi ro chính trị, những bất lợi về thuế, vấn đề chi phí đại diện, thông tin bất cân xứng (Reeb & cộng sự, 1998), do có sự hội nhập kinh tế sâu rộng giữa các quốc gia nên ngay cả các công ty trong nước cũng chịu tác động từ rủi ro hệ thống của các quốc gia khác trên thế giới (Jafarinejad & cộng sự, 2018). Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, chủ nghĩa bảo hộ sản xuất, bảo hộ mậu dịch cùng những thay đổi về địa chính trị, chính sách thương mại của một số nước lớn đều là các nguồn gốc gây ra rủi ro hệ thống. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng thiệt hai do đa dạng hóa lấn át lợi ích của đa dạng hóa công ty. Quy mô công ty tác động cùng chiều lên rủi ro hệ thống, kết quả nghiên cứu này trái ngược với Hitt & cộng sự (2006) và Nachum (2004). Lý do là các công ty có quy mô lớn có khả năng đa dạng hóa cao (Bảng 3), mà mức độ đa dạng hóa cao thì rủi ro hệ thống lớn (Bảng 6). Đòn bẩy tài chính tác động ngược chiều lên rủi ro hệ thống với mức ý nghĩa 1%. Kết quả nghiên cứu này trái ngược với Aabo & cộng sự (2016), giải thích cho điều này nhóm tác giả cho rằng các công ty có khả năng vay nợ lớn được các ngân hàng thương mại, các nhà đầu tư trái phiếu công ty đánh giá cao về tình hình tài chính, uy tín công ty, thông tin này được các cổ đông tiếp nhận và do đó, đòn bẩy tài chính tác động ngược chiều lên rủi ro hệ thống. Cơ cấu chi phí tác động cùng chiều lên rủi ro hệ thống, các công ty có tỷ lệ chi phí cố định cao trong cơ cấu chi phí thì rủi ro lớn, kết quả nghiên cứu này phù hợp với Lev (1974) và lý thuyết tài chính doanh nghiệp cho rằng những công ty sử dụng đòn cân định phí thì sẽ có nhiều rủi ro (Brealey & cộng sự, 2001). Ngược với kỳ vọng, cơ hội tăng trưởng tác động ngược chiều lên rủi ro hệ thống, kết quả này trái ngược với các nghiên cứu Logue & Merville (1972) và Beaver & cộng sự (1970), nhưng phù hợp với lý thuyết tài chính doanh nghiệp cho rằng công ty có cơ hội tăng trưởng tốt thì rủi ro sẽ thấp. 5. Kết luận Bài viết này phân tích sự tác động của cả hai dạng đa dạng hóa là đa dạng hóa ngành và đa dạng hóa khu vực địa lý đến rủi ro hệ thống của công ty bằng quy Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, số 133 (12/2020) | 115 trình 2 bước của Heckman, kết quả nghiên cứu cho thấy đa dạng hóa tác động cùng chiều lên rủi ro hệ thống. Quy mô công ty và cơ cấu chi phí tác động cùng chiều đến rủi ro hệ thống, đòn bẩy tài chính và cơ hội tăng trưởng tác động ngược chiều lên rủi ro hệ thống. Các kết quả nghiên cứu đa dạng hóa tác động cùng chiều đến rủi ro hệ thống phù hợp với (Krapl, 2015; Olibe & cộng sự, 2008; Reeb & cộng sự, 1998) và tình hình kinh tế chính trị trên thế giới và trong nước có nhiều biến động. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu này, nhóm tác giả đề xuất các giải pháp như sau: Dành cho các công ty, trong bối cảnh kinh tế hiện tại, các công ty không nên đa dạng hóa vì môi trường kinh doanh thay đổi nhanh chóng khó lường, có sự cạnh tranh khốc liệt khi thâm nhập một ngành mới, các yếu tố vĩ mô có nhiều bất ổn, xu hướng bảo hộ của các quốc gia ngày càng tăng, các chính sách thường xuyên thay đổi. Nếu phải đa dạng hóa để tăng trưởng thì phải có chiến lược rõ ràng, xác định đúng thời điểm để đa dạng hóa, cần có sự chuẩn bị trước để vượt qua các rào cản về ngôn ngữ, pháp lý, tìm hiểu kỹ về nhu cầu, văn hóa nước công ty đầu tư để kiểm soát rủi ro. Dành cho nhà đầu tư, việc đầu tư vào các công ty đã đa dạng hóa không có tác dụng đa dạng hóa gián tiếp danh mục đầu tư của mình vì rủi ro hệ thống của các công ty đa dạng hóa có xu hướng cao hơn so với rủi ro hệ thống của các công ty không đa dạng. Nếu các nhà đầu tư đang nắm giữ cổ phiếu của các công ty có chiến lược đa dạng hóa ngành và đa dạng hóa khu vực địa lý thì cần phải nghiên cứu kỹ các tài liệu liên quan đến quyết định này để biểu quyết chiến lược đa dạng hóa của công ty nhằm bảo vệ lợi ích của chính mình. Tài liệu tham khảo Aabo, T., Pantzalis, C., Sørensen, H. & Toustrup, M.T. (2016), “Corporate risk and external sourcing: a study of Scandinavian multinational firms”, International Business Review, Vol. 25 No. 6, pp. 1297 - 1308. Agmon, T. & Lessard, D.R. (1977), “Investor recognition of corporate international diversification”, The Journal of Finance, Vol. 32 No. 4, pp. 1049 - 1055. Anh, N.T.H. (2020), “Mức độ liên kết giữa các thị trường chứng khoán Đông Nam Á và thị trường chứng khoán quốc tế”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, Số 113, tr. 43 - 59. Amit, R. & Livnat, J. (1988), “Diversification strategies, business cycles and economic performance”, Strategic Management Journal, Vol. 9 No. 2, pp. 99 - 110. Beaver, W., Kettler, P. & Scholes, M. (1970), “The association between market determined and accounting determined risk measures”, The Accounting Review, Vol. 45 No. 4, pp. 654 - 682. Berger, P.G. & Ofek, E. (1995), “Diversification”s effect on firm value”, Journal of Financial Economics, Vol. 37 No. 1, pp. 39 - 65. 116 | Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, số 133 (12/2020) Bettis, R.A. & Hall, W.K. (1982), “Diversification strategy, accounting determined risk, and accounting determined return”, The Academy of Management Journal, Vol. 25 No. 2, pp. 254 - 264. Bộ Tài chính. (2006), Thông tư số 20/2006/TT-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn kế toán thực hiện sáu (06) Chuẩn mực kế toán đợt 4 ban hành theo Quyết định số 12/2005/QÐ-BTC ngày 15-02-2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Brealey, R.A., Myers, S.C. & Marcus, A.J. (2001), Fundamentals of corporate finance, The McGraw-Hill Companies, United States of America. Brewer, H.L. (1981), “Investor benefits from corporate international diversification”, The Journal of Financial and Quantitative Analysis, Vol. 16 No. 1, pp. 113 - 126. Campa, J.M. & Kedia, S. (2002), “Explaining the diversification discount”, Journal of Finance, Vol. 57 No. 4, pp. 1731 - 1762. Dastidar, P. (2009), “International corporate diversification and performance: does firm self-selection matter?”, Journal of International Business Studies, Vol. 40 No. 1, pp. 71 - 85. de Andrés, P., de la Fuente, G. & Velasco, P. (2017), “Does it really matter how a firm diversifies? Assets-in-place diversification versus growth options diversification”, Journal of Corporate Finance, Vol. 43, pp. 316 - 339. Denis, D.J., Denis, D.K. & Yost, K. (2002), “Global diversification, industrial diversification, and firm value”, Journal of Finance, Vol. 57 No. 5, pp. 1951 - 1979. Driscoll, J. & Kraay, A. (1998), “Consistent Covariance Matrix Estimation With Spatially Dependent Panel Data”, The Review of Economics and Statistics, Vol. 80 No. 4, pp. 549-560. Đặng, V.D. & Nguyễn, H.C. (2017), “Các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của các công ty niêm yết tại Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, Số 91, tr. 46 - 58. Fatemi, A.M. (1984), “Shareholder benefits from corporate international diversification”, The Journal of Finance, Vol. 39 No. 5, pp. 1325 - 1344. Goldberg, S.R. & Heflin, F. (1995), “The association between the level of international diversification and risk”, Vol. 6 No. 1, pp. 1 - 25. Grant, R.M., Jammine, A.P. & Thomas, H. (1988), “Diversity, diversification, and profitability among british manufacturing companies, 1972 - 1984”, Academy of Management Journal, Vol. 31 No. 4, pp. 771 - 801. Heckman, J.J. (1979), “Sample selection bias as a specification error”, Econometrica, Vol. 47 No. 1, pp. 153 - 161. Hitt, M.A., Tihanyi, L., Miller, T. & Connelly, B. (2006), “International diversification: antecedents, outcomes, and moderators”, Journal of Management, Vol. 32 No. 6, pp. 831 - 867. Jafarinejad, M., Ngo, T. & Escobari, D. (2018), “Disentangling the impacts of industrial and global diversification on firm risk”, Global Finance Journal, Vol. 37, pp. 39 - 56. Krapl, A.A. (2015), “Corporate international diversification and risk”, International Review of Financial Analysis, Vol. 37, pp. 1 - 13. Lev, B. (1974), “On the association between operating leverage and risk”, The Journal of Financial and Quantitative Analysis, Vol. 9 No. 4, pp. 627 - 641. Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, số 133 (12/2020) | 117 Logue, D.E. & Merville, L.J. (1972), “Financial policy and market expectations”, Financial Management, Vol. 1 No. 2, pp. 37 - 44. Lubatkin, M. & Rogers, R.C. (1989), “Diversification, systematic risk, and shareholder return: a capital market extension of rumelt”s 1974 study”, The Academy of Management Journal, Vol. 32 No. 2, pp. 454 - 465. Michel, A. & Shaked, I. (1986), “Multinational corporations vs. domestic corporations: financial performance and characteristics”, Journal of International Business Studies, Vol. 17 No. 3, pp. 89 - 100. Nachum, L. (2004), “Geographic and industrial diversification of developing country firms”, Journal of Management Studies, Vol. 41 No. 2, pp. 273 - 294. Olibe, K.O., Michello, F.A. & Thorne, J. (2008), “Systematic risk and international diversification: an empirical perspective”, International Review of Financial Analysis, Vol. 17 No. 4, pp. 681 - 698. Reeb, D.M., Kwok, C.C.Y. & Baek, H.Y. (1998), “Systematic risk of the multinational corporation”, Journal of International Business Studies, Vol. 29 No. 2, pp. 263 - 279. Song, S., Park, S. & Lee, S. (2017), “Impacts of geographic diversification on restaurant firms” risk: domestic vs. international diversification”, International Journal of Hospitality Management, Vol. 61, pp. 107 - 118. Thompson, R.S. (1984), “Diversification strategy and systematic risk: an empirical inquiry”, Managerial and Decision Economics, Vol. 5 No. 2, pp. 98 - 103. Villalonga, B. (2004), “Does diversification cause the "diversification discount"?”, Financial Management, Vol. 33 No. 2, pp. 5 - 27. Vũ, H.T. & Nguyễn, M.H. (2018), “Tác động của đa dạng hóa nguồn tài trợ tới rủi ro: Vai trò trung gian của đa dạng hóa đầu tư tài sản”, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á, Số 4, tr. 04 - 29.
File đính kèm:
- tac_dong_cua_da_dang_hoa_den_rui_ro_he_thong_cua_cac_cong_ty.pdf